Báo Đại Đoàn Kết Quốc hội

Đại biểu: Nguy cơ vi khuẩn kháng thuốc lan từ chăn nuôi sang người ngày càng rõ

Báo Đại Đoàn Kết Tăng kích thước chữ

Đại biểu: Nguy cơ vi khuẩn kháng thuốc lan từ chăn nuôi sang người ngày càng rõ

Báo Đại Đoàn Kết trên Google News
Đại biểu: Nguy cơ vi khuẩn kháng thuốc lan từ chăn nuôi sang người ngày càng rõ
Bà Nguyễn Thị Lan phát biểu (Ảnh: Quang Vinh)

Ngày 1/12, Quốc hội thảo luận về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 15 luật trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường. Theo Đại biểu Nguyễn Thị Lan (Đoàn Hà Nội), ở Việt Nam, mạng lưới thú y cơ sở vẫn còn chênh lệch, năng lực giám sát xét nghiệm chưa đồng đều và nguy cơ vi khuẩn kháng thuốc lan từ chăn nuôi sang người ngày càng rõ. Bài học từ dịch tả lợn Châu Phi và cúm gia cầm cho thấy hệ thống thú y mạnh thì dịch bệnh được kiểm soát tốt hơn.

Đại biểu Nguyễn Thị Lan (Đoàn Hà Nội) cho biết, các sửa đổi trong điều 11 về Luật Thú y là một điểm rất quan trọng, đã làm rõ hơn trách nhiệm của Bộ Nông nghiệp và môi trường trong ban hành quy chuẩn kỹ thuật, dự báo, cảnh báo dịch bệnh, thống kê thiệt hại. Đồng thời, phân cấp cho địa phương trong quản lý thú y, kiểm dịch, giết mổ và thuốc thú y. Đây là bước tiếp cận phù hợp với kinh nghiệm quốc tế trong quản lý dịch bệnh theo chuỗi giá trị từ trang trại đến bàn ăn.

Tuy nhiên, theo bà Lan, thực tiễn cho thấy nhiều dịch bệnh nguy hiểm như cúm gia cầm, dịch tả lợn Châu Phi, lở mồm long móng, viêm da nổi cục và các bệnh mới nổi cũng tiềm ẩn nguy cơ diễn biến phức tạp, ảnh hưởng lớn tới kinh tế và sức khỏe nhân dân.

“Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và Tổ chức Thú y Thế giới (WOAH), khoảng 70% bệnh truyền nhiễm mới nổi ở người có nguồn gốc từ động vật. Các dịch bệnh như SARS, MERS, H5N1, H7N9, Ebola, Nipah và Covid-19 là minh chứng rõ ràng. Điều này khẳng định: Kiểm soát dịch bệnh động vật là tuyến phòng thủ đầu tiên của y tế công cộng”, bà Lan phân tích.

Cùng với đó, thách thức kháng kháng sinh gia tăng nhanh. Hơn 100 hoạt chất kháng sinh đang được dùng trong chăn nuôi. Ở nhiều nước, trong đó có Việt Nam, lĩnh vực này chiếm tới 60 đến 70% lượng kháng sinh tiêu thụ hàng năm. Việc sử dụng kháng sinh không đúng cách trong chăn nuôi thú y khiến vi khuẩn kháng thuốc lan sang người qua thực phẩm và môi trường. Tổ chức Y tế Thế giới coi đây là một trong 10 đe dọa lớn nhất đối với sức khỏe toàn cầu.

Dịch bệnh động vật cũng gây tổn thất kinh tế nặng nề qua chi phí tiêu hủy, tái đàn và sụt giảm sản xuất, tác động trực tiếp đến an ninh lương thực. Điều đó cho thấy, đầu tư cho phòng bệnh và hệ thống thú y chính là đầu tư cho ổn định kinh tế và phát triển.

Vì vậy, cộng đồng quốc tế thúc đẩy mô hình "Một sức khỏe" (One Health), coi sức khỏe con người gắn chặt với sức khỏe động vật và môi trường. Điều này cũng phù hợp với tinh thần của Nghị quyết 72 của Bộ Chính trị về việc củng cố y tế dự phòng, phát hiện sớm, cảnh báo sớm nguy cơ dịch bệnh.

Ở Việt Nam, mạng lưới thú y cơ sở vẫn còn chênh lệch, năng lực giám sát xét nghiệm chưa đồng đều và nguy cơ vi khuẩn kháng thuốc lan từ chăn nuôi sang người ngày càng rõ. Bài học từ dịch tả lợn Châu Phi và cúm gia cầm cho thấy hệ thống thú y mạnh thì dịch bệnh được kiểm soát tốt hơn.

Do đó, bà Lan kiến nghị trong điều 11 cần nhấn mạnh hơn yêu cầu tăng cường năng lực hệ thống thú y, hoàn thiện giám sát, cảnh báo, kiểm nghiệm, kiểm soát sử dụng thuốc thú y và kháng sinh. Đồng thời, thúc đẩy kết nối thú y - y tế - môi trường theo mô hình "Một sức khỏe". Đây không chỉ là nhiệm vụ của ngành nông nghiệp mà còn góp phần trực tiếp bảo vệ sức khỏe nhân dân và nâng cao khả năng ứng phó dịch bệnh quốc gia.

Từ góc độ xây dựng chính sách, bà Lan kiến nghị làm rõ thêm một số nội dung kỹ thuật quan trọng sau để đảm bảo tính khả thi khi triển khai và góp phần nâng cao hiệu quả của hệ sinh thái thú y quốc gia. Theo đó, cần quy định yêu cầu năng lực tối thiểu của thú y cơ sở, chuẩn hóa lại hệ thống đào tạo thú y. Bất kể mô hình tổ chức nào cũng cần bảo đảm các cấp chính quyền, đặc biệt cấp tỉnh và cấp xã, có đủ nhân lực và công cụ phát hiện sớm, xử lý kịp thời dịch bệnh theo khuyến nghị của Tổ chức Y tế Thế giới và Tổ chức Thú y Thế giới.

Cùng với đó, bổ sung nguyên tắc huy động nguồn lực khoa học công nghệ trong nước, gồm các viện nghiên cứu, các trường đại học, các phòng thí nghiệm đạt chuẩn tham gia giám sát và đánh giá rủi ro dịch bệnh. Hiện nay, lực lượng này ở Việt Nam chưa được xem là một cấu phần của hệ thống thú y quốc gia, trong khi ở nhiều nước họ giữ vai trò nòng cốt trong giám sát dịch bệnh. Vì vậy, cần có cơ chế pháp lý để các cơ sở khoa học, các trường đại học tham gia chính thức vào mạng lưới giám sát thú y quốc gia, phù hợp với thông lệ quốc tế và nâng cao năng lực quản lý dịch bệnh.

Đối với phân cấp việc cấp và gia hạn chứng chỉ hành nghề thú y, bà Lan cho hay cần có bộ tiêu chí và quy trình thống nhất toàn quốc để bảo đảm minh bạch và nâng cao chất lượng đội ngũ hành nghề. Đồng thời xem xét bổ sung tiêu chuẩn quy định cập nhật kiến thức thường xuyên cho bác sĩ thú y hành nghề để phù hợp với thông lệ quốc tế và nâng cao chất lượng hành nghề.

“Những kiến nghị này hướng tới mục tiêu xây dựng hệ thống thú y hiện đại, đồng bộ, kết nối giữa trung ương, địa phương, cơ quan đào tạo, cơ quan nghiên cứu khoa học, đủ năng lực bảo vệ sức khỏe vật nuôi và sức khỏe cộng đồng trong bối cảnh mới”, bà Lan nói và cho hay những kiến nghị trên là nền tảng quan trọng cho công tác kiểm soát dịch bệnh, bảo vệ sức khỏe nhân dân và phát triển nông nghiệp an toàn, bền vững.

Việt Thắng - Trung Hiếu