Báo Đại Đoàn Kết Quốc hội

Đạo đức môi trường phải được thể hiện bằng quy định bảo vệ người chịu tác động

Báo Đại Đoàn Kết Tăng kích thước chữ

Đạo đức môi trường phải được thể hiện bằng quy định bảo vệ người chịu tác động

Báo Đại Đoàn Kết trên Google News

Theo đại biểu Quốc hội Bùi Văn Dũng, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường cần gắn lợi ích tăng trưởng với trách nhiệm môi trường từ quyết định đầu tư. Đạo đức môi trường phải được thể hiện bằng quy định bảo vệ người chịu tác động, khuyến khích người tạo lợi ích môi trường, bảo đảm phát triển bền vững và chất lượng sống của Nhân dân.

Phải bảo vệ nguồn nước ngay khi một thông số đã hết khả năng chịu tải

Ngày 6/11 dưới sự chủ trì của Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn, sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên, Quốc hội thảo luận ở hội trường về: dự án Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi); dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường.

Góp ý dự án Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường, đại biểu Quốc hội Bùi Văn Dũng (Đoàn Thanh Hoá) cho rằng, một dự án có thể có lãi, nhưng xã hội vẫn chịu thiệt nếu chi phí ô nhiễm bị chuyển sang người dân và ngân sách. Sửa Luật để ngăn sự chuyển dịch chi phí ấy ngay từ quyết định đầu tư.

Ông Bùi Văn Dũng phát biểu (Ảnh: Quang Vinh)
Ông Bùi Văn Dũng phát biểu (Ảnh: Quang Vinh)

“Muốn tăng trưởng hai con số bền vững, phải nâng giá trị tạo ra trên mỗi đơn vị tài nguyên, giảm phát thải và chi phí khắc phục ô nhiễm”, ông Dũng nói và đề nghị quán triệt quan điểm không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế trên nền tảng đạo đức môi trường. Người hưởng lợi không được đẩy tổn thất sang cộng đồng; thế hệ hôm nay phải chịu trách nhiệm với điều kiện sống của thế hệ sau. Có những tổn hại hệ sinh thái không thể khắc phục chỉ bằng tiền. Bởi vậy, nghĩa vụ trả chi phí ô nhiễm không thể được hiểu là trả tiền để có quyền gây ô nhiễm. Đồng thời bảo vệ môi trường tự nhiên gắn với môi trường xã hội công bằng, gìn giữ sinh kế, văn hóa cộng đồng và các giá trị sinh thái nhân văn.

Ông Dũng đề nghị, phải bảo vệ nguồn nước ngay khi một thông số đã hết khả năng chịu tải. Điểm a khoản 5 Điều 1 dự thảo, sửa khoản 2 Điều 7, vẫn gắn điều kiện hạn chế xả thải với việc hết khả năng chịu tải đối với “tất cả các thông số bắt buộc đánh giá”. Dự thảo đã bổ sung quản lý tổng tải lượng; báo cáo đã giải trình phương pháp đánh giá từng thông số. Nhưng nguyên tắc quyết định cho phép xả thải khi chỉ một thông số quá tải vẫn cần rõ hơn.

Một đoạn sông đã quá tải tổng nitơ thì khả năng tiếp nhận chất khác không làm giảm rủi ro do nitơ. Nước thải có nồng độ thấp vẫn có thể tạo tải lượng lớn nếu lưu lượng xả lớn. Vì vậy, không thể chỉ dựa vào nồng độ để kết luận an toàn.

Điều 4 Chỉ thị khung về nước của Liên minh châu Âu đặt nguyên tắc ngăn suy giảm tình trạng nguồn nước, với ngoại lệ có điều kiện. Khoản 2 Điều 22 Luật Tài nguyên nước cũng lấy chức năng nguồn nước làm căn cứ cấp phép dự án xả thải. Vì vậy đề nghị Điều 7 quy định không làm tăng tổng tải lượng của thông số đã hết sức chịu tải, bảo đảm an toàn nguồn cấp nước sinh hoạt; giao Chính phủ quy định cách chứng minh và giám sát.

“Luật cần gắn lợi ích tăng trưởng với trách nhiệm môi trường từ quyết định đầu tư. Đạo đức môi trường phải được thể hiện bằng quy định bảo vệ người chịu tác động, khuyến khích người tạo lợi ích môi trường, bảo đảm phát triển bền vững và chất lượng sống của Nhân dân”, ông Dũng nêu rõ.

Công khai minh bạch khả năng chịu tải của từng đoạn sông, hồ

Theo đại biểu Quốc hội Nguyễn Vũ Trung (Đoàn TPHCM), việc đạt quy chuẩn tại một điểm xả thải đơn lẻ không tự chứng minh được tổng tải lượng của cả lưu vực sông, hồ sẽ không gia tăng. Thực tế cho thấy, các nguồn xả thường hoạt động đồng thời, có sự biến động theo mùa và mang những chất ô nhiễm đặc thù của từng ngành nghề. Do đó Luật phải xác lập nguyên tắc cốt lõi: Không làm tăng tải lượng của thông số đã vượt khả năng chịu tải của nguồn nước. Mọi ngoại lệ chỉ được xem xét khi có đánh giá chi tiết theo từng thông số, tính toán đầy đủ tải lượng tích lũy và điều kiện bất lợi theo mùa.

Đồng thời, cần bổ sung các thông số đặc thù theo từng loại hình dự án, công khai minh bạch khả năng chịu tải của từng đoạn sông, hồ và đặt ra các yêu cầu khắt khe nhằm bảo vệ nguồn nước sinh hoạt cho người dân.

Ông Nguyễn Vũ Trung phát biểu (Ảnh: Quang Vinh)
Ông Nguyễn Vũ Trung phát biểu (Ảnh: Quang Vinh)

Ông Trung chỉ ra rằng, dự thảo hiện còn thiếu các yêu cầu bắt buộc về đánh giá tác động sức khỏe, công bố dữ liệu ô nhiễm, tham vấn ý kiến cộng đồng và lộ trình hỗ trợ cho các nhóm đối tượng bị ảnh hưởng. Nếu áp dụng ngay các biện pháp hạn chế phương tiện giao thông khi hạ tầng giao thông công cộng chưa đáp ứng nhu cầu, thiếu các điểm trung chuyển và chưa có chính sách hỗ trợ chuyển đổi phù hợp, gánh nặng chi phí sẽ dồn lên vai người lao động thu nhập thấp, người khuyết tật, người cao tuổi và các cơ sở kinh doanh nhỏ.

Ông Trung đề xuất bổ sung nguyên tắc bắt buộc: Trước khi thành lập vùng phát thải thấp, chính quyền địa phương phải công khai dữ liệu nền về môi trường, đánh giá tác động sức khỏe và kinh tế - xã hội. Việc thiết lập vùng phát thải thấp phải đi kèm với lộ trình phát triển giao thông công cộng, cung cấp chính sách hỗ trợ chuyển đổi phương tiện và có giải pháp bảo vệ các nhóm yếu thế.

Cần bảo đảm quyền hưởng lợi hợp pháp từ đầu tư giảm phát thải

Theo ông Bùi Văn Dũng, Điều 139 được sửa tại khoản 61 Điều 1 xác định tín chỉ các-bon là hàng hóa giao dịch, nhưng báo cáo còn để tiếp tục nghiên cứu địa vị pháp lý. Đề nghị đối chiếu Điều 115 Bộ luật Dân sự về quyền tài sản, làm rõ quyền của chủ thể có tín chỉ hợp lệ, điều kiện chuyển giao và hậu quả khi bị thu hồi, hủy bỏ. Không nên đồng nhất tín chỉ với hạn ngạch phát thải, vì căn cứ hình thành khác nhau. Quyền và rủi ro rõ ràng mới giúp doanh nghiệp tính toán đầu tư công nghệ sạch. Đây cũng là sự công bằng đối với người bỏ vốn, công sức bảo vệ môi trường.

Anh Vũ - Việt Thắng - Quang Vinh