Kết nối nguồn lực, phát triển khoa học công nghệ
Hợp tác quốc tế trong khoa học, công nghệ cần vượt ra ngoài các hoạt động kết nối, trao đổi và ký kết, hướng tới cùng xây dựng chương trình nghiên cứu, chia sẻ nguồn lực và tạo ra tri thức, công nghệ mới. Đây là yêu cầu đặt ra với Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới.
Diễn ra ngày 5-6/11 tại Hà Nội, Diễn đàn mở rộng kết nối hợp tác khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của Việt Nam và các nước (IRIFF 2026) do Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ quốc gia (NAFOSTED - Bộ KHCN) tổ chức đã đặt ra yêu cầu tăng cường phối hợp nghiên cứu, huy động nguồn lực quốc tế. Đây là hướng đi cần thiết khi Việt Nam đang triển khai Nghị quyết 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Từ tiếp nhận đến đồng sáng tạo
Phát biểu tại Diễn đàn, Bộ trưởng Bộ KHCN Vũ Hải Quân nhấn mạnh, Việt Nam mong muốn tiến xa hơn trong việc tiếp nhận tri thức và công nghệ, hướng tới cùng các đối tác tạo ra tri thức mới, phát triển công nghệ và chia sẻ thành quả.
Theo Bộ trưởng, những lĩnh vực như trí tuệ nhân tạo (AI), y tế, bán dẫn, năng lượng sạch đang mở ra nhiều cơ hội, trong khi biến đổi khí hậu, an ninh năng lượng và dịch bệnh là những thách thức vượt khỏi khả năng giải quyết của từng quốc gia. Hợp tác quốc tế vì thế cần trở thành một phần thiết yếu trong chiến lược phát triển khoa học, công nghệ của Việt Nam.
Muốn hợp tác tạo ra giá trị thực chất, cần chú trọng đầu tư cho con người, bảo đảm nguồn lực ổn định và có cơ chế tài trợ phù hợp với từng loại hình nghiên cứu. Nghiên cứu cơ bản cần được đầu tư dài hạn; các nhà khoa học trẻ cần không gian tự do thử nghiệm những hướng nghiên cứu mới.
Một yêu cầu khác là gắn kết nghiên cứu với doanh nghiệp ngay từ khâu xác định bài toán. Nhà nước tạo điều kiện về thể chế và nguồn lực, nhà khoa học đóng góp tri thức, giải pháp, còn doanh nghiệp tham gia xác định nhu cầu, đầu tư và tiếp nhận kết quả. Cùng với hỗ trợ thử nghiệm, chế tạo mẫu, cần thúc đẩy đưa những kết quả có triển vọng từ phòng thí nghiệm đến sản xuất.
Bộ trưởng cũng đề nghị các đối tác quốc tế cùng xác định ưu tiên nghiên cứu, phối hợp kêu gọi đề xuất, đóng góp kinh phí và chia sẻ hạ tầng, chuyên môn. Giá trị của hợp tác cần được đo bằng kết quả cùng tạo ra, thay vì chỉ dừng ở những thỏa thuận được ký kết.
Hình thành cơ chế đồng tài trợ
Để chuyển định hướng hợp tác thành những chương trình cụ thể, vai trò của các cơ quan tài trợ nghiên cứu có ý nghĩa quan trọng. PGS.TS Đào Ngọc Chiến, Giám đốc Cơ quan điều hành Quỹ NAFOSTED cho rằng, hợp tác quốc tế trong khoa học, công nghệ không chỉ là trao đổi học thuật hay mở rộng mạng lưới, mà còn là cùng xác định câu hỏi nghiên cứu, kết hợp thế mạnh và hạ tầng, chia sẻ chi phí, rủi ro và kiểm chứng kết quả.
Theo ông, các quỹ tài trợ có thể chủ động kết nối đối tác, phối hợp thiết kế lời mời đề xuất, thống nhất nguyên tắc đánh giá và tạo điều kiện cho các nhóm nghiên cứu hợp tác xuyên biên giới. Cách làm này giúp huy động thêm nguồn lực, nâng cao chất lượng và quy mô các chương trình nghiên cứu chung.
NAFOSTED mong muốn đóng vai trò kết nối các chủ thể, thiết kế cơ chế tài trợ để đưa liên kết Nhà nước - nhà khoa học - doanh nghiệp vào thực tiễn, cả trong nước và trong các chương trình hợp tác quốc tế.
Kinh nghiệm hợp tác Việt Nam - Thụy Sĩ cho thấy hiệu quả của phương thức này. Theo Đại sứ Thụy Sĩ tại Việt Nam Thomas Gass, từ khuôn khổ hợp tác được thiết lập năm 2020 giữa NAFOSTED và Quỹ Khoa học quốc gia Thụy Sĩ (SNSF), hai bên đã tổ chức hai đợt kêu gọi đề xuất nghiên cứu chung, hỗ trợ hơn 20 dự án với tổng kinh phí khoảng 8 triệu USD. Các nhà khoa học hai nước cùng xây dựng câu hỏi nghiên cứu, đề xuất được đánh giá chung và mỗi quỹ tài trợ cho các nhóm nghiên cứu thuộc phạm vi của mình.
Hai nước còn hợp tác trong các lĩnh vực như nghiên cứu tại Đồng bằng sông Cửu Long, ứng dụng AI trong đọc kết quả X-quang lồng ngực và y sinh học với Đại học Geneva. Đại sứ Thomas Gass cho biết SNSF và NAFOSTED đang tìm kiếm cơ hội tổ chức đợt kêu gọi đề xuất nghiên cứu chung tiếp theo vào năm 2027.
Thúc đẩy đồng tài trợ và xây dựng các chương trình nghiên cứu chung là hướng đi cần được chú trọng trong hợp tác khoa học, công nghệ của Việt Nam. Khi các bên cùng đóng góp kinh phí, chia sẻ hạ tầng và chuyên môn, các nhóm nghiên cứu có thêm điều kiện mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng nghiên cứu. Đây cũng là cơ sở để Việt Nam tham gia sâu hơn vào mạng lưới khoa học quốc tế, từng bước chuyển từ tiếp nhận thành tựu sang cùng sáng tạo và chia sẻ thành quả.