Đặt hàng theo sản phẩm, quản lý theo kết quả, mở đường cho cơ chế đột phá
Dự thảo Chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia đặc biệt về công nghệ chiến lược đặt mục tiêu phát triển hơn 30 sản phẩm công nghệ chiến lược đến năm 2030. Đồng thời, đề xuất một loạt cơ chế chưa từng có như quản lý theo kết quả đầu ra, sandbox, chấp nhận rủi ro nghiên cứu, cam kết mua trước sản phẩm... Những thay đổi này được kỳ vọng sẽ rút ngắn khoảng cách từ phòng thí nghiệm tới thị trường.

Không chỉ tài trợ nghiên cứu mà kiến tạo hệ sinh thái
Một trong những điểm đáng chú ý nhất của dự thảo Chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia đặc biệt về công nghệ chiến lược đang được Bộ Khoa học và Công nghệ lấy ý kiến là cách tiếp cận hoàn toàn khác so với nhiều chương trình khoa học trước đây.
Ông Nguyễn Minh Quân, Chuyên viên Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ quốc gia (NAFOSTED) cho biết, Chương trình được xây dựng nhằm tối ưu hóa nguồn lực quốc gia, thiết lập cơ chế điều phối thống nhất từ Trung ương đến địa phương, đồng thời quản lý xuyên suốt theo chuỗi giá trị để gắn kết viện nghiên cứu, trường đại học với doanh nghiệp.

Theo ông Quân, Chương trình lấy sản phẩm làm mục tiêu, doanh nghiệp làm trung tâm, công nghệ làm nền tảng và thị trường là thước đo.
Triết lý này cũng được thể hiện xuyên suốt trong dự thảo thông qua 5 quan điểm chỉ đạo cốt lõi, gồm: sản phẩm là mục tiêu; công nghệ là nền tảng; doanh nghiệp là trung tâm; gắn phát triển công nghệ với tự chủ quốc gia và triển khai linh hoạt theo chuỗi giá trị.
Khác với tư duy triển khai theo từng đề tài riêng lẻ, Chương trình được thiết kế như một hệ sinh thái thống nhất, trong đó mọi nhiệm vụ đều hướng đến mục tiêu cuối cùng là tạo ra sản phẩm có khả năng thương mại hóa.
Theo dự thảo, mục tiêu tổng quát là hình thành các sản phẩm công nghệ chiến lược có năng lực cạnh tranh cao, làm chủ công nghệ lõi và xây dựng hệ sinh thái công nghệ chiến lược nhằm nâng cao năng lực tự chủ công nghệ quốc gia.
Quản lý theo kết quả thay vì hồ sơ thủ tục
Điểm thay đổi đáng chú ý tiếp theo đó là dự thảo không còn đặt nặng việc quản lý theo quy trình hành chính mà chuyển sang quản lý theo kết quả đầu ra.
Các nhiệm vụ sẽ được tổ chức theo toàn bộ chuỗi giá trị, từ bài toán thực tiễn, xây dựng nhiệm vụ, nghiên cứu làm chủ công nghệ, hoàn thiện sản phẩm, sản xuất thử nghiệm cho đến thương mại hóa và phát triển thị trường.
Theo đó, việc giải ngân cũng được thực hiện theo các mốc kết quả thay vì theo tiến độ hành chính. Sau mỗi giai đoạn, cơ quan quản lý sẽ đánh giá thực tế để quyết định tiếp tục cấp kinh phí, điều chỉnh hoặc dừng nhiệm vụ.
Đây được kỳ vọng là cơ chế giúp nguồn lực tập trung cho các nhiệm vụ có khả năng tạo ra sản phẩm thực sự, thay vì chỉ hoàn thành các thủ tục nghiệm thu.
Dự kiến Chương trình được quản lý theo các danh mục công nghệ chiến lược thay vì từng nhiệm vụ đơn lẻ. Các danh mục sẽ được rà soát, điều chỉnh thường xuyên theo nhu cầu thị trường, yêu cầu phát triển công nghệ và hiệu quả thực hiện nhằm tập trung nguồn lực cho những lĩnh vực có tiềm năng lớn hơn.
Theo ông Nguyễn Minh Quân, để hiện thực hóa các mục tiêu, dự thảo đề xuất nhiều cơ chế đặc thù.
Trong đó có cơ chế tuyển chọn cạnh tranh nhiều nhóm nghiên cứu cùng thực hiện một mục tiêu để lựa chọn giải pháp tối ưu; áp dụng cơ chế sandbox tối đa 24 tháng đối với công nghệ mới; chấp nhận rủi ro trong nghiên cứu và tăng quyền tự chủ cho tổ chức chủ trì.
Đặc biệt, dự thảo khẳng định quan điểm chấp nhận rủi ro khoa học - một nội dung được xem là rất cần thiết đối với các nhiệm vụ công nghệ lõi, nơi khả năng thất bại luôn tồn tại nhưng cũng là tiền đề tạo nên các đột phá lớn.
Song song với đó là cơ chế trao quyền tự chủ cao hơn cho các đơn vị chủ trì trong tổ chức thực hiện và sử dụng nguồn lực.

Tạo thị trường cho sản phẩm công nghệ Việt
Không chỉ thay đổi cách nghiên cứu, Chương trình còn hướng đến giải quyết "điểm nghẽn" lớn nhất của khoa học Việt Nam là thương mại hóa.
Theo dự thảo, Nhà nước sẽ thí điểm cơ chế cam kết mua trước có điều kiện đối với sản phẩm công nghệ chiến lược; xây dựng cơ chế xác định giá cho sản phẩm lần đầu nhằm tháo gỡ khó khăn trong mua sắm công; đồng thời ưu tiên đầu tư hạ tầng nghiên cứu, thử nghiệm và kiểm định dùng chung.
Đối với các sản phẩm đã có thị trường, Chương trình ưu tiên các cơ chế thúc đẩy thương mại hóa nhanh.
Trong khi đó, nhóm công nghệ nền tảng, công nghệ phục vụ quốc phòng, an ninh hoặc tạo động lực tăng trưởng mới sẽ được áp dụng cơ chế tài trợ dài hạn và chấp nhận mức độ rủi ro cao hơn, thậm chí chưa bắt buộc phải có thị trường ngay tại thời điểm nghiệm thu.
Dự thảo đặt mục tiêu đến năm 2030 phát triển và thương mại hóa trên 30 sản phẩm công nghệ chiến lược, trong đó có ít nhất 10 sản phẩm cạnh tranh được trên thị trường khu vực và quốc tế; làm chủ hơn 12 công nghệ lõi và hình thành ít nhất 5 chuỗi sản phẩm công nghệ chiến lược.
Để đạt mục tiêu này, Chương trình dự kiến huy động nguồn lực từ nhiều kênh, trong đó ngân sách nhà nước giữ vai trò chủ đạo, đồng thời thu hút sự tham gia của doanh nghiệp, quỹ đầu tư, quỹ đầu tư mạo hiểm, các tổ chức tài chính và nguồn tài trợ trong, ngoài nước.
Bên cạnh đó, cơ chế tuyển chọn và đãi ngộ đặc biệt đối với Tổng công trình sư, Kiến trúc sư trưởng cùng các chuyên gia đầu ngành được kỳ vọng sẽ thu hút đội ngũ nhân lực chất lượng cao dẫn dắt các nhiệm vụ công nghệ chiến lược.
Theo lộ trình, Chương trình sẽ được phê duyệt và triển khai từ năm 2026, đánh giá giữa kỳ vào năm 2028 và tổng kết sau năm 2030. Nếu được triển khai hiệu quả, đây không chỉ là một chương trình nghiên cứu khoa học mà còn là nền tảng để hình thành hệ sinh thái công nghệ chiến lược, góp phần nâng cao năng lực tự chủ và sức cạnh tranh công nghệ của Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới.