Đầu tư phải đủ ngưỡng
Trao đổi với Đại Đoàn Kết, PGS.TS. Bùi Thị An- Ủy viên Ủy ban Khoa học công nghệ và môi trường của Quốc hội cho rằng: Do khó khăn nên ta chưa có điều kiện để đầu tư đủ ngưỡng cho khoa học công nghệ. Và cũng chính vì thế nên việc nghiên cứu bị hạn chế.

PV: Thưa bà, khoa học- công nghệ được coi là quốc sách hàng đầu, là động lực quan trọng nhất để phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, kinh tế tri thức, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Vấn đề này chúng ta đã ý thức được từ lâu nhưng tại sao đến nay chưa đẩy mạnh được ứng dụng khoa học- công nghệ vào sản xuất?
![]() |
Bà Bùi Thị An: Đánh giá một cách công bằng, trong thời gian qua những kết quả của khoa học- công nghệ đã đi vào thực tiễn. Rõ ràng trong nông nghiệp khoa học- công nghệ đã phát triển dù chưa như mong muốn.
Song từ một nước đang thiếu gạo trở thành nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới, đó chính là do khoa học- công nghệ. Thủy sản từ một ngành nuôi thả manh mún giờ đã trở thành lĩnh vực có thương hiệu trên thế giới. Hay trong lĩnh vực ghép tạng cũng đã có vị trí trong khu vực và thế giới, y học dân tộc cũng thế.
Thời gian qua quản lý khoa học cũng tốt hơn. Khoa học ứng dụng cũng đã huy động xã hội hóa và có kết quả thu hút được doanh nghiệp vào cuộc.
Tuy nhiên, dù Đảng, Chính phủ đã đặt ra mục tiêu khoa học- công nghệ là then chốt nhưng ta chưa đạt được điều đó. Vậy nguyên nhân vì sao? Thứ nhất, ta cũng khó khăn cho nên chưa đủ điều kiện để đầu tư đủ ngưỡng cho khoa học- công nghệ.
Vì không đủ ngưỡng nên việc nghiên cứu bị hạn chế, từ đó khiến thành tựu không như mong muốn bởi khoa học là cần thiết bị, cần nghiên cứu. Giai đoạn hiện nay dù khá hơn vì có internet cập nhật hàng ngày, có số liệu, ấn phẩm, thông tin nhưng nói cho cùng khoa học là phải có thiết bị, trong khi đó thiết bị ta lại chưa đủ để nghiên cứu.
Thứ hai, đất nước dành 2% ngân sách cho nghiên cứu khoa học- công nghệ. Nhà nước rất cố gắng, nhân dân cố gắng nhưng 2% chưa nhiều, trong khi đó không phải đầu tư hoàn toàn cho khoa học công nghệ mà còn đầu tư cho phát triển. Phát triển không phải chỉ ở Trung ương mà còn đưa về địa phương. Ở địa phương có nơi chi đúng nhưng nhiều nơi khó khăn quá nên lấy vào quỹ đó. Tóm lại 2% ngân sách cũng không chi đủ, chưa kể có nơi chi không đúng mục tiêu cho nên khoa học- công nghệ chưa đủ lực để phát triển.
Thứ ba, đội ngũ cán bộ khoa học- công nghệ của ta dù được đào tạo bài bản nhưng một thời kỳ quá dài bao cấp cho nên ngay tư duy cũng chưa vượt ra được, vẫn cứ muốn dựa vào ngân sách, lao động cầm chừng.
Thứ tư, về quản lý khoa học thì gần đây mới có Luật Khoa học- công nghệ chứ trước đây, chi cho các đề tài rất khó khăn, quyết toán khó. Vì cơ chế khó nên cán bộ khoa học không muốn tham gia nhiều, cũng như say sưa nghiên cứu. Vì khó khăn nên đời sống của cán bộ nghiên cứu khoa học chưa đủ để mức có thể dành toàn bộ tâm trí lực cho nghiên cứu. Và nghiên cứu đó cũng là phụ không phải là chính. Đó là những lý do khiến khoa học chưa phát triển như mong muốn cũng như chính những người làm khoa học.
Có một thực tế là chúng ta chưa áp dụng được nhiều công trình khoa học- công nghệ vào sản xuất để tăng năng suất lao động cũng như giá trị sản phẩm, vậy do đâu thưa bà?
- Có một số ứng dụng khoa học đi vào sản xuất nhưng tỷ lệ này còn thấp. Vì cơ chế nên cách lựa chọn đề tài chưa thật sát với thực tiễn. Bây giờ đã có định hướng rõ ràng, tất cả các nghiên cứu khoa học đều phải xuất phát từ thực tiễn tự nhiên cũng như xã hội để áp dụng trở lại thực tiễn.
Vì vậy kết quả khoa học có một số công trình cất vào ngăn kéo. Ngay như vừa qua trong sản xuất, chúng ta cần chế biến nhưng chúng ta lại xuất thô nên giá trị sản phẩm rất thấp. Đó là do chúng ta chưa ứng dụng được nhiều kết quả của khoa học- công nghệ vào sản xuất nên giá trị còn thấp là vậy.
Thưa bà, chúng ta nói nhiều đến phát triển thị trường khoa học- công nghệ nhưng thực ra thị trường này chưa phát triển lắm?
- Trong những năm gần đây chúng ta đã có thị trường công nghệ. Trong tất cả các hội chợ triển lãm đã bắt đầu xuất hiện công nghệ và có người đến đặt mua. Nhưng công nghệ chưa phát triển đến mức để trở thành hàng hóa có giá trị vì ta cũng chưa có nhiều công nghệ nên chưa phải mặt mạnh lắm.
Vậy làm sao để liên kết các trường đại học, viện nghiên cứu với nhà sản xuất?
- Trong phát triển liên kết bền vững có liên kết 4 nhà gồm: Nhà nước- nhà quản lý- doanh nghiệp- người làm trực tiếp. Trong đó người làm trực tiếp có thể là người sản xuất ra sản phẩm công nghiệp, hoặc nông nghiệp. Chuỗi liên kết đó phải rất là gắn chặt, nếu phát huy được thì khoa học- công nghệ sẽ phát triển.
Trong chuỗi đấy thì yếu tố của doanh nghiệp vô cùng quan trọng vì họ là người đặt hàng, mua hàng. Nếu các sản phẩm công nghệ được doanh nghiệp tiếp nhận thì đương nhiên sản xuất sẽ phát triển, sản xuất phát triển đương nhiên đất nước sẽ phát triển về kinh tế. Nếu yếu tố đó không được thúc đẩy coi như nó không bền vững.
Trong phát triển giáo dục mục tiêu là tạo ra một thế hệ con người có kiến thức, trình độ, năng lực nghiên cứu, năng lực quản lý, năng lực tổ chức. Chuyện phối hợp giữa nghiên cứu khoa học và giảng dạy vô cùng quan trọng trong đó có lĩnh vực ứng dụng. Nghiên cứu giảng dạy rồi sản xuất, chuỗi liên kết ấy sẽ làm cho năng lực của con người tăng lên. Tất cả lý thuyết đều phải đi vào thực tiễn, sản xuất. Nếu chuỗi liên kết này không chặt chẽ chắc chắn sản phẩm đầu ra không đảm bảo.
Trong khoa học - công nghệ, có cần xác định mũi nhọn đầu tư không, thưa bà?
- Công nghiệp hiện đại thì ta phải lựa chọn chứ không thể hiện đại tất cả các lĩnh vực. Ví dụ như tin học, công nghệ thông tin, sinh học trong nông nghiệp và sinh học trong y dược.Có lựa chọn thì mới tập trung đầu tư chứ dàn trải cuối cùng sẽ không đạt được mục tiêu và không thể cạnh tranh được khi đất nước hội nhập sâu.
Trân trọng cảm ơn bà!
