Báo Đại Đoàn Kết Đối thoại

Để nông sản Việt vươn xa

Báo Đại Đoàn Kết Tăng kích thước chữ

Để nông sản Việt vươn xa

Báo Đại Đoàn Kết trên Google News

Các thị trường xuất khẩu liên tục dựng lên những hàng rào kỹ thuật mới buộc nông sản Việt phải đẩy nhanh quá trình tái cấu trúc để nâng cao năng lực cạnh tranh. Trong cuộc trả lời phỏng vấn Báo Đại đoàn kết, TS Nguyễn Thị Hồng Minh, nguyên Thứ trưởng Bộ Thủy sản (nay là Bộ Nông nghiệp và Môi trường), Chủ tịch Hiệp hội Thực phẩm minh bạch (AFT) hiến kế, muốn nông sản Việt thực sự bước vào chuỗi giá trị toàn cầu, doanh nghiệp cần lấy thương hiệu làm trọng tâm.

“Tấm hộ chiếu” minh bạch dữ liệu

Thưa bà, đâu là điểm nghẽn lớn nhất khiến nông sản Việt khó bước vào chuỗi giá trị toàn cầu?

TS Nguyễn Thị Hồng Minh	 Ảnh: H.Phúc
TS Nguyễn Thị Hồng Minh Ảnh: H.Phúc

TS Nguyễn Thị Hồng Minh: Theo tôi, điểm nghẽn lớn nhất hiện nay không còn nằm ở chất lượng sản phẩm mà ở cấu trúc tổ chức thị trường và năng lực xây dựng hệ sinh thái thương hiệu Việt. Nông sản Việt đã có mặt ở nhiều thị trường lớn như Mỹ, châu Âu, Nhật Bản, Trung Quốc hay Úc nhưng phần lớn vẫn được bán dưới thương hiệu nước ngoài. Người tiêu dùng quốc tế có thể đang sử dụng nguyên liệu từ Việt Nam nhưng không nhận diện đó là sản phẩm Việt. Nguyên nhân sâu xa nằm ở tính manh mún, thiếu liên kết trong chuỗi sản xuất. Giá tăng thì đầu tư ồ ạt, giá giảm lại chặt bỏ hoặc chuyển đổi sản xuất. Việc cạnh tranh bằng giá làm suy yếu nội lực của ngành. Đáng chú ý, khoảng 90% doanh nghiệp (DN) nông nghiệp và thực phẩm của Việt Nam là DN vừa, nhỏ và siêu nhỏ, không đủ nguồn lực để tự đầu tư truyền thông và chuyển đổi số.

Việt Nam cần bắt đầu từ đâu để xây dựng được một thương hiệu đủ mạnh cho nông sản quốc gia, thưa bà?

- Trước hết phải có ý chí thay đổi, chuyển từ sản xuất manh mún sang một hệ thống có tổ chức, đoàn kết để cùng xây dựng và phát triển thương hiệu. Đây là sự thay đổi mang tính cách mạng từ nhận thức đến hành động, cần được thể hiện từ chủ trương, chính sách của Nhà nước cho đến kế hoạch triển khai của các hiệp hội và DN. Việc tổ chức liên kết dưới thương hiệu chung còn khá mới đối với phần lớn hiệp hội và DN, do đó rất cần sự hỗ trợ trực tiếp của Nhà nước trong đào tạo, xây dựng hệ sinh thái sản xuất - thương mại và phát triển thị trường.

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy thương hiệu chung phải dựa trên hai nền tảng cốt lõi là tiêu chuẩn kỹ thuật chung và quy tắc ứng xử chung của cộng đồng ngành hàng, đi kèm cơ chế kiểm soát chất lượng nội bộ. Thương hiệu quốc gia không thể chỉ là một logo hay chiến dịch truyền thông, mà phải là cam kết chất lượng được duy trì ổn định và lâu dài.

Doanh nghiệp nhỏ cần được trao “hạ tầng mềm”

Nhiều DN nhỏ và vừa (SMEs) trong lĩnh vực nông nghiệp - thực phẩm đang làm rất tử tế, rất sạch nhưng lại thiếu cơ hội tiếp cận thị trường quốc tế. Theo bà, cần một cơ chế hay hệ sinh thái như thế nào để SMEs có thể tham gia “cuộc chơi lớn” này?

- Điểm nghẽn lớn nhất của SMEs không nằm ở chất lượng sản phẩm mà ở năng lực tiếp cận thị trường quốc tế.

Phần lớn DN đang làm ra sản phẩm tốt nhưng thiếu nguồn lực để xây dựng thương hiệu, phát triển thị trường và tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu. Thay vì hỗ trợ riêng lẻ từng DN, Việt Nam cần xây dựng hệ sinh thái liên kết theo ngành hàng. Các DN cùng sản phẩm cần cùng thực hiện tiêu chuẩn kỹ thuật, truy xuất nguồn gốc, quảng bá thương hiệu và xúc tiến thương mại quốc tế. Điều DN cần không chỉ là vốn hay ưu đãi đất đai mà là một hệ sinh thái hỗ trợ đủ mạnh để kết nối cộng đồng DN, giảm chi phí và nâng cao năng lực cạnh tranh.

Tôi cho rằng các hiệp hội ngành hàng cần đóng vai trò “hạ tầng mềm”, hỗ trợ DN kết nối thị trường, đào tạo chuyển đổi số, chia sẻ dữ liệu và xúc tiến thương mại. Chính sách thời gian tới cũng cần chuyển từ hỗ trợ đơn lẻ sang hỗ trợ phát triển hệ sinh thái cộng đồng; ưu tiên nguồn lực cho những ngành hàng có liên kết thực chất, xây dựng được tiêu chuẩn và thương hiệu chung.

Chú trọng xây dựng thương hiệu là chìa khóa để nông sản vươn xa.	Ảnh: M.P
Chú trọng xây dựng thương hiệu là chìa khóa để nông sản vươn xa. Ảnh: M.P

Hiện các quy định SPS tại các thị trường nhập khẩu liên tục thay đổi, khắt khe hơn. DN Việt cần chuẩn bị năng lực gì để chủ động?

- Các tiêu chuẩn quốc tế hiện nay đều đòi hỏi tính minh bạch và khả năng truy xuất nguồn gốc. Người mua muốn biết sản phẩm được sản xuất ở đâu, bởi ai, theo quy trình nào và có đáp ứng các tiêu chuẩn môi trường hay không.

DN cần xây dựng năng lực quản trị dữ liệu và quản trị chuỗi cung ứng theo chuẩn quốc tế. Hệ sinh thái liên kết chuỗi sẽ giúp DN tham gia vào hệ thống dữ liệu số, quản lý vùng trồng, nhật ký sản xuất, kiểm soát tồn dư hóa chất và cập nhật liên tục yêu cầu của thị trường nhập khẩu. Nếu không có dữ liệu minh bạch, DN sẽ luôn ở thế bị động và dễ bị cảnh báo hoặc trả hàng. Trong bối cảnh hiện nay, cạnh tranh không chỉ là cạnh tranh sản phẩm mà còn là cạnh tranh năng lực minh bạch.

Từ thực tế sản xuất hiện nay, theo bà, làm thế nào để Việt Nam vừa bảo đảm sản lượng, vừa chuyển đổi sang mô hình nông nghiệp xanh, hữu cơ và tuần hoàn?

- Nếu thị trường vẫn mua hàng theo giá rẻ thì người nông dân rất khó thay đổi. Bài toán cốt lõi là phải tạo ra thị trường thực sự trả giá cho sản phẩm sạch.

Nông dân cần liên kết thành cộng đồng sản xuất hữu cơ và tự kiểm soát lẫn nhau. Nếu một hộ vi phạm tiêu chuẩn thì cả tổ sản xuất cùng bị ảnh hưởng. Nông nghiệp xanh không thể phát triển nếu chỉ dựa vào từng hộ riêng lẻ mà phải được tổ chức theo cộng đồng, có liên kết thị trường, thương hiệu chung và cơ chế kiểm soát chung.

Thưa bà, liệu liên kết ngành hàng có phải là chìa khóa giúp DN nông nghiệp nâng cao năng lực phòng vệ thương mại và ứng phó hiệu quả với các rào cản ngày càng gia tăng trên thị trường quốc tế?

- Trong bối cảnh các yêu cầu về xuất xứ, truy xuất nguồn gốc, tiêu chuẩn chất lượng và các biện pháp phòng vệ thương mại ngày càng khắt khe, liên kết ngành hàng là yêu cầu tất yếu. Nếu hoạt động riêng lẻ, từng DN rất khó có đủ nguồn lực để theo dõi thị trường, đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật hoặc ứng phó với các vụ việc phòng vệ thương mại từ nước ngoài. Liên kết ngành hàng sẽ giúp các chủ thể trong chuỗi giá trị chia sẻ thông tin thị trường, xây dựng vùng nguyên liệu đạt chuẩn, chuẩn hóa dữ liệu truy xuất nguồn gốc và phối hợp xử lý các vấn đề phát sinh.

Quan trọng hơn, liên kết giúp chuyển từ mạnh ai nấy làm sang xây dựng chuỗi giá trị bền vững. Khi toàn bộ chuỗi từ sản xuất đến chế biến, xuất khẩu cùng tuân thủ các tiêu chuẩn chung, nông sản Việt Nam không chỉ nâng cao khả năng chống chịu trước các rào cản thương mại mà còn gia tăng uy tín, giá trị và sức cạnh tranh trên thị trường toàn cầu.

Xin trân trọng cảm ơn bà!

Thành Luân - Minh Hải (thực hiện)