Báo Đại Đoàn Kết Tinh hoa Việt

Để sông Hồng thành biểu tượng phát triển mới

Báo Đại Đoàn Kết Tăng kích thước chữ

Để sông Hồng thành biểu tượng phát triển mới

Báo Đại Đoàn Kết trên Google News

Sông Hồng đang được đặt vào vị trí trung tâm trong cấu trúc phát triển mới của Hà Nội, với khoảng 40km từ cầu Hồng Hà đến cầu Mễ Sở được nghiên cứu tổ chức lại không gian. Nhưng để dòng sông thực sự trở thành biểu tượng phát triển mới của Thủ đô, quy hoạch phải giải đồng thời ba bài toán: phát triển đô thị, an toàn dòng chảy và gìn giữ những giá trị văn hóa, sinh kế đã hình thành bên sông.

Sông Hồng vừa là dòng sông, vừa là không gian sinh tồn, giao thương và kết nối các cộng đồng. Ảnh: Quang Vinh
Sông Hồng vừa là dòng sông, vừa là không gian sinh tồn, giao thương và kết nối các cộng đồng. Ảnh: Quang Vinh

Đưa dòng sông vào trung tâm cấu trúc đô thị

Trong lịch sử hình thành Thăng Long - Hà Nội, sông Hồng vừa là dòng sông, vừa là không gian sinh tồn, giao thương và kết nối các cộng đồng. Có một thời gian dài đô thị phải “quay lưng” với dòng sông để thích ứng với lũ lụt, nhưng tư duy quy hoạch đang chuyển sang một hướng khác: “quay mặt” ra sông, đưa dòng sông trở lại trung tâm của cấu trúc đô thị.

Theo KTS Tô Anh Tuấn, Chủ tịch Hội Quy hoạch phát triển đô thị Hà Nội, nguyên Giám đốc Sở Quy hoạch - Kiến trúc Hà Nội, nếu quy hoạch năm 1998 chủ yếu xác định hai bên sông là không gian xanh, cảnh quan thì đến quy hoạch năm 2011, sông Hồng đã được nâng lên thành “biểu tượng phát triển”. Hiện nay, dòng sông được đặt ở vị trí của một trục chiến lược, một “lifeline” và động lực phát triển mới.

Sự thay đổi này được thể hiện khá rõ trong điều chỉnh tổng thể Quy hoạch phân khu đô thị sông Hồng tỷ lệ 1/5.000, đoạn từ cầu Hồng Hà đến cầu Mễ Sở. Phạm vi nghiên cứu khoảng 40km, diện tích khoảng 11.418ha; khu vực này có khoảng 279.525 người sinh sống, với đất nông nghiệp chiếm khoảng 50%, mặt nước khoảng 30% diện tích nghiên cứu. Quy hoạch cũng ghi nhận 123 công trình di tích, cho thấy đây không phải một khoảng không gian trống để tổ chức một đô thị mới, mà là một vùng đã có sẵn cấu trúc tự nhiên, dân cư, sản xuất và di sản.

Phó Viện trưởng Viện Quy hoạch xây dựng Hà Nội Đào Duy Hưng cho rằng sông Hồng được xác định là “cực tăng trưởng, phát triển và không gian cảnh quan đặc biệt đa chức năng”; Trục Đại lộ cảnh quan sông Hồng là “trục chiến lược, trục không gian xanh trung tâm, đồng thời là trục kinh tế, thương mại, dịch vụ và đô thị, gắn với văn hóa, sáng tạo, khoa học và công nghệ dọc hai bên sông”.

Điểm đáng chú ý là quy hoạch 1/5.000 không chỉ xác định chức năng sử dụng đất. Ba nội dung cốt lõi được đặt ra gồm phân chia, xác định các chức năng đô thị để cụ thể hóa Quy hoạch tổng thể Thủ đô tầm nhìn 100 năm; xác lập các nguyên tắc tổ chức kiến trúc, cảnh quan; đồng thời xác định các dự án thành phần của Trục Đại lộ cảnh quan làm cơ sở cho quy hoạch chi tiết 1/500 và đầu tư xây dựng. Nói cách khác, đây là bước tổ chức lại một cấu trúc không gian lớn, trong đó sông Hồng và hai bên bờ được nhìn như một chỉnh thể phát triển.

1.772ha và bài toán an toàn thoát lũ

Theo hồ sơ điều chỉnh tổng thể Quy hoạch phân khu đô thị sông Hồng đang được lấy ý kiến, diện tích xây dựng và tôn cao bãi sông được đề xuất khoảng 3.900ha, tăng khoảng 1.772ha, tương đương hơn 83% so với mức giới hạn 2.128ha được xác định theo Quy hoạch phòng, chống lũ và quy hoạch đê điều hệ thống sông Hồng, sông Thái Bình.

Con số chênh lệch này đặt ra yêu cầu phải làm rõ bằng cơ sở khoa học, bởi khu vực nghiên cứu rộng khoảng 11.418ha, trải dài 40km từ cầu Hồng Hà đến cầu Mễ Sở, đồng thời là hành lang thoát lũ quan trọng của Thủ đô. Khoảng 279.525 người đang sinh sống trong khu vực này. Mọi thay đổi về xây dựng, tôn cao bãi sông, giao thông và tổ chức lại không gian dân cư đều có thể liên quan đến dòng chảy, mực nước, vận tốc lũ, ổn định lòng dẫn và an toàn đê điều.

Theo hồ sơ, phương án được nghiên cứu trên cơ sở mô hình thủy văn, thủy lực một chiều và hai chiều, có khảo sát địa hình, địa chất, thủy văn, bùn cát và hiện trạng chỉnh trị sông; đồng thời tính đến kịch bản lũ chu kỳ 500 năm, biến đổi khí hậu đến năm 2100, vận hành hồ chứa thượng nguồn, thủy triều và biến động bùn cát. Tuy nhiên, kết quả mô hình mới là một trong những căn cứ để lập quy hoạch.

Vì vậy, điều cần làm rõ không chỉ là 3.900ha gồm những khu vực nào, mà còn là bao nhiêu diện tích xây dựng công trình, bao nhiêu diện tích tôn cao, bao nhiêu dành cho giao thông, công viên, không gian công cộng và bao nhiêu vẫn giữ chức năng sinh thái, trữ nước, thoát lũ. Với sông Hồng, phát triển chỉ có thể đi cùng an toàn khi từng khu vực can thiệp được chứng minh bằng tính toán thủy lực và thẩm định chặt chẽ.

Đó cũng là lý do “quay mặt ra sông” không thể được hiểu đơn giản là xây dựng nhiều hơn về phía dòng nước. KTS Trần Minh Tuấn, Nhóm nghiên cứu Không gian mặt nước Hà Nội, cho rằng cần tạo mạng lưới kết nối đô thị với sông bằng giao thông công cộng, phương tiện nhẹ, xe đạp và đi bộ, để người dân có thể đến với dòng sông, vui chơi, trải nghiệm văn hóa thay vì bị những tuyến đường lớn ngăn cách.

Nếu thành công, giá trị của Trục Đại lộ cảnh quan không nằm ở việc có thêm một tuyến đường, mà ở khả năng biến sông Hồng thành một không gian mà đô thị thực sự hướng tới, đi qua và sử dụng. Đây là khác biệt căn bản giữa một “mặt tiền đô thị” với một trục phát triển.

Phát triển theo dòng sông, không áp đặt lên dòng sông

Tuy nhiên, chính ở đây xuất hiện thách thức lớn nhất. Sông Hồng không phải một mặt bằng có thể tùy ý phân khu, xây dựng. Đó là một hệ thống động, có dòng chảy, bãi sông, vùng trữ nước, đê điều và những biến động về mực nước. Vì vậy, yêu cầu đầu tiên của không gian phát triển mới vẫn là an toàn thoát lũ.

KTS Trần Huy Ánh, Thường vụ Hội Kiến trúc sư Hà Nội, gọi không gian lòng sông và bãi sông giữa hai tuyến đê là “ranh giới đỏ” của quy hoạch. Trong không gian này, phát triển không được cản trở dòng chảy, làm mất khả năng trữ nước, ảnh hưởng đến an toàn đê điều hoặc làm gia tăng nguy cơ thiệt hại khi có lũ lớn.

GS.TS Lê Văn Nghị, Giám đốc Phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia về động lực học sông biển, Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam, lưu ý lòng dẫn sông Hồng đã có thay đổi về độ sâu trong những năm gần đây so với cơ sở tính toán của các quy hoạch phòng, chống lũ trước đây. Vì thế, việc tổ chức không gian ven sông phải được đặt trong tổng thể hệ thống, từ lòng dẫn, bãi sông đến mật độ phát triển, thoát nước và các công trình.

Đối với Trục Đại lộ cảnh quan, câu hỏi vì vậy không chỉ là tuyến đường đi ở đâu, rộng bao nhiêu, kết nối những khu vực nào, mà còn là tuyến đường ấy nằm ở đâu so với hành lang thoát lũ, tác động thế nào đến phân bố dòng chảy và lưu lượng thiết kế. Đại lộ nếu được nhìn đơn thuần như một dự án giao thông sẽ dễ bỏ qua mối quan hệ căn bản giữa giao thông, không gian xanh, bãi sông và khả năng thích ứng của đô thị với nước.

GS.TS Lê Văn Nghị phân tích dòng chảy mạnh nhất ở lòng dẫn, giảm dần về phía bãi sông, trong khi chiều rộng bãi sông thay đổi theo từng khu vực. Mực nước sông cũng có biên độ lớn. Vì vậy, không gian ven sông cần được tổ chức thành những lớp khác nhau, từ lòng sông, khu vực thường xuyên ngập, khu vực ít ngập đến không gian đô thị, với mức độ rủi ro và yêu cầu an toàn khác nhau.

KTS Tô Anh Tuấn nhấn mạnh: “Thoát lũ trước hết là an toàn cho thành phố, cho người dân”. Từ nguyên tắc đó, những khu vực có cao độ và mức độ ngập khác nhau có thể được tổ chức thành các không gian bảo tồn tự nhiên, cây xanh chịu ngập, nông nghiệp, công viên, vui chơi, thể thao hoặc những khu vực đô thị ít bị ảnh hưởng bởi lũ. Cách tiếp cận này quan trọng ở chỗ không đặt mục tiêu “chế ngự” dòng sông, mà tìm cách để đô thị thích ứng với quy luật của nó.

Đây cũng là điểm gặp nhau giữa quy hoạch và sinh thái. Nếu coi bãi sông, bãi giữa, mặt nước và những khoảng trống tự nhiên chỉ là quỹ đất có thể chuyển đổi chức năng, nguy cơ không chỉ nằm ở việc mất cảnh quan. Những thay đổi ấy có thể tác động tới khả năng trữ nước, thoát lũ, thấm nước và cân bằng sinh thái của cả khu vực. Ngược lại, nếu tổ chức được các lớp không gian phù hợp với cao độ và tần suất ngập, chính những vùng tưởng như “khó phát triển” lại có thể trở thành phần quan trọng của không gian xanh, vui chơi, sinh thái và thích ứng khí hậu.

Mạch nguồn và động lực

GS.TS.NGND Nguyễn Quang Ngọc, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, cho rằng từ Văn Lang, Cổ Loa đến Thăng Long, sông Hồng luôn giữ vị trí trung tâm trong quá trình hình thành cộng đồng và sáng tạo văn hóa. “Giá trị văn hóa, lịch sử của sông Hồng rất lớn. Sông Hồng luôn là trung tâm và kết tinh nhiều giá trị văn hóa, lịch sử của Hà Nội. Vì thế, đến nay chúng ta đang thực hiện khát vọng quay mặt ra sông Hồng, đưa sông Hồng trở thành động lực phát triển của đô thị Hà Nội là rất đúng đắn, có cơ sở và tôi tin chúng ta có thể làm được”, GS.TS.NGND Nguyễn Quang Ngọc khẳng định đồng thời lưu ý, để hiện thực hóa khát vọng này, quy hoạch hiện đại cần kết hợp những bài học kinh nghiệm của tổ tiên với các thành tựu khoa học - công nghệ hiện đại, nhằm giải quyết những bài toán quản lý dòng sông mà trong lịch sử chúng ta chưa làm được.

Không để người bên sông đứng ngoài cuộc phát triển

Một không gian phát triển mới sẽ khó trở thành biểu tượng nếu trong quá trình hình thành nó, những giá trị làm nên bản sắc của chính dòng sông bị tách khỏi quy hoạch. Bởi bên sông hiện hữu không chỉ có đất đai và nhà cửa, mà còn có làng xóm, làng nghề, di tích, tín ngưỡng, sinh kế và những cộng đồng đã sống qua nhiều thế hệ.

Điều chỉnh quy hoạch lần này vì thế có một công việc ít được chú ý nhưng rất quan trọng: rà soát, cập nhật hiện trạng các di tích lịch sử - văn hóa, công trình tín ngưỡng, trường học, nhà văn hóa và hạ tầng xã hội thiết yếu; đồng thời tiếp nhận phản ánh của người dân, chính quyền cơ sở để kiểm tra và cập nhật những thông tin chưa chính xác. Đây là cách đưa những gì đang tồn tại trên mặt đất vào trong bản đồ quy hoạch, thay vì chỉ nhìn khu vực sông Hồng từ những đường nét của một đồ án.

Nhưng “quay mặt ra sông” cũng đồng nghĩa với việc phải nhìn thấy những cộng đồng đang ở đó. KTS Phạm Thanh Tùng, Chánh Văn phòng Hội Kiến trúc sư Việt Nam, gọi các làng ven sông là “hệ sinh thái di sản”, trong đó làng nghề không chỉ có đình, chùa hay những công trình kiến trúc, mà còn có người làm nghề, không gian sản xuất, khách hàng, quan hệ cộng đồng và ký ức về nơi chốn. Một số làng nghề có thể trở thành những “bảo tàng sống”, nơi chính người dân kể câu chuyện về làng, nghề và dòng sông.

Vì vậy, tái định cư không thể chỉ được tính bằng số căn hộ hay số tiền bồi thường. Thành phố đang dự kiến khoảng 265ha đất tái định cư phục vụ giải phóng mặt bằng, theo hướng ưu tiên địa bàn người dân đang sinh sống hoặc khu vực lân cận, để họ có thể tiếp tục làm việc, sản xuất, kinh doanh, học tập và duy trì quan hệ cộng đồng.

KTS Phạm Thanh Tùng nói: “Người dân ở các làng ven sông đang sở hữu 5 thứ: Nhà ở, đất, sinh kế, quan hệ cộng đồng và ký ức nơi chốn. Nếu chỉ bồi thường tiền sử dụng đất hay nhà ở thì mới giải quyết được một phần”. Trường hợp Bát Tràng cho thấy rõ điều đó: một hộ gia đình có thể đồng thời sở hữu nhà ở, xưởng, cửa hàng, nơi trưng bày sản phẩm, khách hàng, nguồn nguyên liệu và những mạng lưới nghề nghiệp được hình thành qua thời gian. Di chuyển một căn nhà là việc có thể tính toán bằng diện tích và giá trị tài sản; khôi phục một hệ sinh thái sinh kế và cộng đồng lại là câu chuyện khác.

TS Nguyễn Viết Chức, Phó Chủ nhiệm Hội đồng Tư vấn Văn hóa - Xã hội (Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam) nhấn mạnh: “Người phải di dời cần được chia sẻ, không chỉ về vật chất. Sự hy sinh của họ hôm nay là để tạo dựng cảnh quan sông Hồng trong tương lai. Đây không chỉ là một dự án đô thị mà còn mang ý nghĩa đối với dòng sông mẹ, với lịch sử phát triển của dân tộc. Sự đóng góp đó rất đáng được ghi nhận”.

Đáng chú ý, quy hoạch 1/5.000 mới chỉ là bước tổ chức không gian tổng thể; các quy hoạch chi tiết 1/500 và dự án đầu tư tiếp theo vẫn phải tiếp tục lấy ý kiến. Thành phố cũng yêu cầu đơn vị tư vấn kiểm tra, đối chiếu hiện trạng và tiếp thu những phản ánh phù hợp để nâng cao tính chính xác, đồng bộ và khả thi của đồ án.

Như vậy, câu chuyện sông Hồng trở thành biểu tượng phát triển mới không nằm ở việc dựng lên một hình ảnh mới bên dòng sông, mà ở khả năng tạo ra một cấu trúc đô thị mới nhưng không phủ nhận những gì đã làm nên dòng sông. Đó là một không gian đủ an toàn trước lũ, đủ mở để người dân tiếp cận, đủ xanh để thích ứng với tự nhiên, đủ giàu bản sắc để không đánh mất lịch sử và đủ công bằng để những người đang sống bên sông không bị đứng ngoài thành quả phát triển.

TS Nguyễn Viết Chức cho rằng “mọi tác động vào sông Hồng cần giữ được sự hiền hòa và bảo đảm tính văn hóa, tránh những can thiệp thô bạo có thể gây ra tác động ngược”. Có lẽ đây cũng là phép thử quan trọng nhất của khát vọng “quay mặt ra sông”: Không chỉ quay mặt để nhìn thấy dòng sông, mà phải hiểu dòng sông, tôn trọng dòng sông và nhìn thấy cả những con người đã sống cùng dòng sông.

Cần những tác động hiền hòa

TS Nguyễn Viết Chức, Phó Chủ nhiệm Hội đồng Tư vấn Văn hóa - Xã hội (Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam) nhấn mạnh, mọi tác động vào sông Hồng cần giữ được sự hiền hòa và bảo đảm tính văn hóa, tránh những can thiệp thô bạo có thể gây ra tác động ngược.

Là người có nhiều tâm huyết với quy hoạch sông Hồng, TS Nguyễn Viết Chức cũng cho rằng, bảo tồn không đồng nghĩa với việc “ôm khư khư” cái cũ. “Bảo tồn và phát triển văn hóa đòi hỏi chúng ta phải biết trân trọng, bảo tồn, nhưng đồng thời cũng phải biết phát huy giá trị trong những điều kiện mới”, TS Nguyễn Viết Chức nói, đồng thời cũng cho rằng, mục tiêu cao nhất của phát triển văn hóa và quy hoạch dòng sông là phục vụ đời sống nhân dân. “Kỳ tích sông Hồng” chỉ thực sự được xác lập khi đem lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc và giúp cư dân hai bên bờ sông được trực tiếp thụ hưởng những giá trị của sự phát triển.

Nhóm Phóng viên