Đề xuất bổ sung cơ chế đánh giá rủi ro pháp lý trước khi cấp phép đầu tư
Đại biểu Quốc hội Dương Khắc Mai (đoàn Lâm Đồng) kiến nghị cần bổ sung cơ chế phòng ngừa từ sớm, đánh giá rủi ro pháp lý trước khi cấp phép đầu tư, cơ chế tiền hợp đồng và minh bạch hóa thủ tục. Đây là những công cụ rất quan trọng để giảm thiểu nguy cơ phát sinh tranh chấp ngay từ đầu.
Chiều 11/4, Quốc hội thảo luận ở hội trường về dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về cơ chế phối hợp, chính sách đặc thù nâng cao hiệu quả phòng ngừa và giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế.

Đại biểu Quốc hội Mai Thị Phương Hoa (đoàn Ninh Bình) tập trung cho ý kiến về quy định loại trừ, miễn giảm trách nhiệm theo quy định của pháp luật đối với những người tham gia xây dựng, ban hành Nghị quyết (Khoản 5 Điều 18).Theo đó, Khoản 5 Điều 18 của dự thảo Nghị quyết quy định việc loại trừ, miễn giảm trách nhiệm theo quy định của pháp luật đối với nhiều đối tượng, trong đó có người tham gia xây dựng và ban hành Nghị quyết này. Quy định này cũng tương tự như quy định tại Điều 34 của dự thảo Luật Thủ đô (sửa đổi) mà Quốc hội thảo luận tại kỳ họp này.
Theo bà Hoa, đây là nội dung mới, lần đầu tiên quy định trách nhiệm theo pháp luật đối với người tham gia xây dựng, ban hành nghị quyết của Quốc hội. Suy ra là quy định trách nhiệm pháp lý của đại biểu Quốc hội khi tham gia xây dựng và ban hành Nghị quyết của Quốc hội.

“Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước chỉ quy định bồi thường đối với cá nhân, tổ chức bị thiệt hại do người thi hành công vụ gây ra trong hoạt động quản lý hành chính, tố tụng, thi hành án và không có bồi thường nhà nước trong hoạt động xây dựng pháp luật. Quy định này của dự thảo Nghị quyết là cách tiếp cận mới về trách nhiệm pháp lý của người tham gia vào quá trình xây dựng pháp luật nói chung, và đại biểu Quốc hội tham gia xây dựng và ban hành luật, nghị quyết của Quốc hội nói riêng”, bà Hoa nói và đề nghị cân nhắc quy định này để bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật.
Theo đại biểu Dương Khắc Mai (đoàn Lâm Đồng), chúng ta đang chứng kiến một thế giới đầy biến động của các mối quan hệ quốc tế. Trong đó, đầu tư và những vấn đề tranh chấp đầu tư quốc tế đang là thách thức đối với các quốc gia, chủ thể tham gia vào quan hệ này, trong đó có nước ta. Từ thực tiễn bối cảnh tình hình như vậy việc ban hành Nghị quyết này là hết sức quan trọng.
Ông Mai nhìn nhận, đây là một bước hoàn thiện quan trọng trong khuôn khổ pháp lý của nước ta trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, với yêu cầu ngày càng cao về bảo vệ lợi ích quốc gia, đồng thời bảo đảm môi trường đầu tư ổn định, minh bạch và tin cậy đối với các nhà đầu tư quốc tế.
Tuy nhiên, theo ông Mai, nội dung phối hợp phòng ngừa tranh chấp đầu tư quốc tế được thể hiện tại Điều 6, dự thảo Nghị quyết đã đề cập đến cơ chế phối hợp giữa các cơ quan, tuy nhiên còn mang tính nguyên tắc, chưa rõ ràng để triển khai. Ông Mai đề nghị cần xác định rõ cơ quan đầu mối chủ trì trong tham mưu chính sách, trong đó nên giao cho một cơ quan đóng vai trò trung tâm điều phối nhằm bảo đảm tính thống nhất, đồng thời cần quy định cụ thể về quy trình phối hợp liên ngành, nhất là trong quá trình đàm phán, ký kết các cam kết quốc tế và xử lý các vấn đề phát sinh. Bên cạnh đó, cần bổ sung quy định về thời hạn xử lý, phản ánh, kiến nghị của các nhà đầu tư, cơ chế phản hồi phải rõ ràng, minh bạch và có tính ràng buộc trách nhiệm. Nếu không quy định cụ thể các yếu tố này, cơ chế phòng ngừa sẽ khó phát huy hiệu quả trên thực tế.

Đối với trách nhiệm trong tham mưu xây dựng chính sách thu hút đầu tư tại Điều 7, ông Mai cho rằng dự thảo hiện chưa xác định rõ chủ thể chịu trách nhiệm chính trong việc này. Việc quy định không cụ thể cơ quan, tổ chức sẽ dẫn đến khó xác định trách nhiệm khi xảy ra tranh chấp. Do đó, cần làm rõ vai trò từng bộ, ngành, đặc biệt như Bộ Tài chính và các cơ quan chuyên ngành có liên quan. Ngoài ra, cần bổ sung cơ chế phòng ngừa từ sớm, như đánh giá rủi ro pháp lý trước khi cấp phép đầu tư, cơ chế tiền hợp đồng và minh bạch hóa thủ tục. Đây là những công cụ rất quan trọng để giảm thiểu nguy cơ phát sinh tranh chấp ngay từ đầu.

Về xác định cơ quan chủ trì giải quyết tranh chấp (Điều 12), ông Mai nói việc quy định hiện tại chưa thực sự bao quát. Tranh chấp đầu tư quốc tế thông thường không phát sinh từ một quyết định đơn lẻ mà là kết quả của một chuỗi hành vi quản lý nhà nước có sự tham gia của nhiều cơ quan, cả ở Trung ương và địa phương. Do đó, nếu chỉ dựa vào một tiêu chíbiện pháp bị kiện để xác định cơ quan chủ trì thì khó áp dụng trong các trường hợp phức tạp, dễ dẫn đến lúng túng, chậm trễ. Vì vậy cần bổ sung các tiêu chí xác định theo thứ tự ưu tiên, bao gồm: cơ quan ban hành, hoặc đề xuất trực tiếp biện pháp bị khởi kiện; cơ quan quản lý chuyên ngành; cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư nước ngoài trong trường hợp không xác định được cụ thể, và chỉ báo cáo Thủ tướng khi không thể xác định theo các tiêu chí này. Cách tiếp cận này sẽ vừa bảo đảm tính linh hoạt, vừa tăng tính chủ động của hệ thống.

Bên cạnh đó, các quy định miễn, giảm trách nhiệm cần được thiết kế chặt chẽ, có tiêu chí rõ ràng và có cơ chế giám sát phù hợp nhằm tránh lạm dụng, đồng thời vẫn bảo đảm khuyến khích cán bộ chủ động, sáng tạo trong thực thi nhiệm vụ.