Dệt thổ cẩm: Từ khung cửi dưới nhà Gươl đến khát vọng du lịch bền vững
Giữa dòng chảy hối hả của nhịp sống hiện đại, những giá trị truyền thống đôi khi bị lu mờ bởi công nghệ và sự tiện dụng. Thế nhưng tại các xã miền núi Đà Nẵng, tiếng thoi đưa dệt thổ cẩm vẫn đều đặn vang lên và hơn thế nữa trở thành sản phẩm du lịch độc đáo, mở ra sinh kế bền vững cho cả cộng đồng.

Độc đáo nghề dệt thổ cẩm
Nếu nhà Gươl được ví như trái tim của làng bản Cơ Tu, thì nghề dệt thổ cẩm chính là dòng máu chảy trong huyết quản của những người phụ nữ vùng cao. Tại làng du lịch cộng đồng Dhroồng, xã Đông Giang, TP Đà Nẵng, hình ảnh những người phụ nữ miệt mài bên khung cửi dưới bóng nhà Gươl đã trở thành một biểu tượng đẹp đẽ.
Trước đây, dệt thổ cẩm thuần túy là công việc tự cung tự cấp. Phụ nữ Cơ Tu dệt váy, áo, khố cho chồng con và cho chính mình để diện trong các dịp lễ hội đâm trâu, mừng lúa mới. Nhưng nay, mọi chuyện đã khác. Chị Bhling Treng, Tổ trưởng Tổ dệt thổ cẩm Dhroồng, chia sẻ về sự thay đổi tư duy: “Ngày trước, bà con thường nhận nguyên liệu rồi lủi thủi dệt ở nhà. Nay chúng tôi tập hợp lại tại điểm trưng bày chung. Vừa dệt, vừa trò chuyện, vừa đón khách. Nhà Gươl giờ không chỉ là nơi sinh hoạt chung mà còn là nơi sống động nhất để giới thiệu văn hóa mình cho thế giới”.
Sự tập trung này không chỉ tạo ra không khí lao động rộn ràng mà còn biến quy trình sản xuất thành một sản phẩm trải nghiệm. Du khách quốc tế, đặc biệt là những người yêu thích văn hóa bản địa, cực kỳ phấn khích khi được tận mắt chứng kiến đôi bàn tay khéo léo của các bà, các chị đan cài từng sợi chỉ nhuộm màu tự nhiên từ lá cây, vỏ cây rừng.
Để có được một tấm thổ cẩm rực rỡ, độc đáo với những hoa văn tinh xảo như hình hàng rào, hình con rồng hay các họa tiết cách điệu từ thiên nhiên, người thợ phải đánh đổi bằng vô số giờ lao động miệt mài. Chị Bloong Thị Tơn (37 tuổi), một người thợ lành nghề, tâm sự rằng: “Nghề dệt không khó ở kỹ thuật đánh đố, nhưng lại thử thách con người ở sự tỉ mỉ và lòng kiên trì”.
Trong quá khứ, một bộ trang phục truyền thống có thể mất hàng tháng trời chuẩn bị, từ khâu vào rừng tìm bông, kéo sợi đến nhuộm màu. Ngày nay, dù nguồn nguyên liệu đã phong phú và dễ tiếp cận hơn, nhưng giá trị cốt lõi của sản phẩm vẫn nằm ở sự thủ công. Một chiếc khăn choàng giản đơn cũng chiếm trọn 4 ngày công, có giá khoảng 250.000 đồng. Với những sản phẩm kỳ công hơn như váy hay áo truyền thống, người thợ phải bám cùng khung cửi suốt nửa tháng trời, giá thành vì thế dao động từ 700.000 đồng đến hơn 1 triệu đồng.
Tuy nhiên, để thích ứng với thị trường du lịch, người Cơ Tu không chỉ duy trì với những bộ đồ truyền thống mà họ đã biết sáng tạo ra các sản phẩm lưu niệm nhỏ gọn như túi xách, ví cầm tay, khăn trải bàn... Những món đồ thổ cẩm độc đáo này vừa túi tiền nhiều du khách, mang tính ứng dụng cao nhưng vẫn mang đậm cái hồn của núi rừng Tây Giang, Đông Giang, của đồng bào Cơ Tu.

Cú hích từ du lịch cộng đồng
Sự khởi sắc của du lịch miền núi Đà Nẵng những năm gần đây đã mang đến một vận hội mới. Thổ cẩm không còn nằm im trong rương kính, nó đã xuống phố, vào các hội chợ và nằm trong hành lý của du khách phương xa.
Bà Bling Trưi (48 tuổi) không giấu được niềm vui vì đơn hàng ngày một nhiều hơn: “Khi khách du lịch đến đông, họ không chỉ xem mình dệt mà còn muốn mua quà mang về. Thu nhập từ nghề dệt giờ đã ổn định hơn, mỗi tháng nếu chịu khó cũng kiếm được hơn 3 triệu đồng. Con số này ở vùng cao là cả một sự thay đổi lớn cho gia đình.”
Cái hay của người Cơ Tu là họ không chỉ bán sản phẩm, họ bán cả “câu chuyện”. Du khách đến đây được mời ngồi vào khung cửi, được hướng dẫn cách luồn thoi, được nghe kể về ý nghĩa của từng loại hoa văn gắn liền với truyền thuyết dân tộc. Chính trải nghiệm tương tác này đã tạo nên sức hút khó cưỡng cho du lịch cộng đồng, khiến giá trị của tấm thổ cẩm được nâng lên gấp bội.
Để nghề dệt không bị mai một theo thời gian, vai trò của chính quyền địa phương là vô cùng quan trọng. Ông Coor Le – Chủ tịch UBND xã Đông Giang khẳng định, bảo tồn văn hóa phải đi đôi với phát triển kinh tế bền vững. Không thể bắt người dân giữ nghề nếu nghề đó không nuôi sống được họ. Thông qua các Chương trình mục tiêu quốc gia, đặc biệt là Dự án 6 về bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống, nhiều hoạt động thiết thực đã được triển khai. Các tổ dệt được hỗ trợ kinh phí mua nguyên liệu, xây dựng các gian hàng trưng bày và được đào tạo về kỹ năng làm du lịch, giao tiếp với khách hàng.
“Mục tiêu lâu dài của chúng tôi là xây dựng thương hiệu thổ cẩm Cơ Tu thành một nhãn hiệu có uy tín. Địa phương sẽ hỗ trợ cải tiến mẫu mã để bắt kịp thị hiếu nhưng tuyệt đối không làm mất đi bản sắc. Khi nghề dệt mang lại cơm no áo ấm, lớp trẻ sẽ tự nhìn vào đó mà học tập, truyền thừa. Đó là cách bảo tồn tốt nhất”- ông Coor Le nhấn mạnh.
Nhìn vào những tấm thổ cẩm rực rỡ dưới nắng đại ngàn, người ta thấy một tương lai tươi sáng cho vùng cao. Thổ cẩm Cơ Tu giờ đây đã trở thành “đại sứ văn hóa”, kết nối những bản làng xa xôi với thế giới bên ngoài. Nó không chỉ là những sợi chỉ màu đan xen, mà là sợi dây liên kết giữa quá khứ và hiện tại, giữa bảo tồn và phát triển.
Từ những bước đi chập chững ban đầu của du lịch cộng đồng, đồng bào Cơ Tu đang dần khẳng định, văn hóa chính là tài nguyên vô giá. Một khi biết khai thác đúng cách, những giá trị truyền thống ấy sẽ trở thành chìa khóa để mở ra cánh cửa thoát nghèo, đưa đời sống của người dân đi lên mà vẫn giữ trọn vẹn bản sắc cha ông để lại.
Tiếng thoi đưa ở Dhroồng vẫn sẽ vang lên, không chỉ để dệt nên những tấm áo, mà để dệt nên những ước mơ về một vùng cao ấm no, trù phú và đầy tự hào.