Báo Đại Đoàn Kết Sức khỏe

Điều chỉnh quy hoạch mạng lưới cơ sở y tế đến năm 2030

Báo Đại Đoàn Kết Tăng kích thước chữ

Điều chỉnh quy hoạch mạng lưới cơ sở y tế đến năm 2030

Báo Đại Đoàn Kết trên Google News
Điều chỉnh quy hoạch mạng lưới cơ sở y tế đến năm 2030
Thúc đẩy mạnh mẽ chuyển đổi số và ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong toàn hệ thống y tế.

Bộ trưởng Bộ Y tế Đào Hồng Lan vừa phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch mạng lưới cơ sở y tế thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050, với mục tiêu xây dựng hệ thống y tế hiện đại, đồng bộ, nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ chất lượng cho người dân.

Theo quyết định, phạm vi quy hoạch gồm các cơ sở y tế công lập liên vùng, liên tỉnh và liên ngành trong các lĩnh vực khám bệnh, chữa bệnh, phục hồi chức năng; giám định y khoa, giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần; y tế dự phòng, y tế công cộng; kiểm nghiệm, kiểm định, kiểm chuẩn sản phẩm thuộc phạm vi quản lý của Bộ Y tế; dân số - sức khỏe sinh sản.

Mục tiêu đến năm 2030 là phát triển mạng lưới cơ sở khám chữa bệnh đủ năng lực cung ứng dịch vụ y tế có chất lượng, đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe nhân dân. Quy hoạch đặt yêu cầu mỗi vùng có ít nhất một bệnh viện cấp chuyên sâu mức kỹ thuật cao; mỗi tỉnh, thành phố có ít nhất một bệnh viện cấp chuyên sâu, đồng thời phát triển các trung tâm chuyên khoa trong bệnh viện đa khoa.

Một nội dung đáng chú ý là quy hoạch một số bệnh viện đảm nhận chức năng vùng theo cấu trúc 6 vùng kinh tế - xã hội. Các bệnh viện này có nhiệm vụ cung cấp dịch vụ kỹ thuật chuyên sâu cho người dân trong vùng, hỗ trợ chuyên môn, chuyển giao kỹ thuật cho cơ sở khám chữa bệnh trong tỉnh, liên tỉnh và liên vùng.

Bộ Y tế cũng xác định phát triển một số bệnh viện chuyên sâu kỹ thuật cao, hiện đại ngang tầm các nước phát triển trong khu vực và quốc tế. Trong đó, tiếp tục đầu tư, nâng cấp 6 bệnh viện gồm Bệnh viện Bạch Mai, Bệnh viện Chợ Rẫy, Bệnh viện Trung ương Huế, Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 và Bệnh viện Quân y 175 trở thành bệnh viện cấp chuyên sâu mức kỹ thuật cao, đạt chứng nhận chất lượng quốc tế.

Với hệ thống khám chữa bệnh tuyến vùng, quy hoạch định hướng phát triển một số bệnh viện đa khoa cấp chuyên sâu mức kỹ thuật cao tại các vùng, gồm Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên ở vùng Trung du và miền núi phía Bắc; Bệnh viện Bạch Mai ở vùng Đồng bằng sông Hồng; Bệnh viện Trung ương Huế ở vùng Bắc Trung Bộ; Bệnh viện Đà Nẵng và Bệnh viện Khánh Hòa ở vùng Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên; Bệnh viện Chợ Rẫy ở vùng Đông Nam Bộ; Bệnh viện Trung ương Cần Thơ ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

Quy hoạch cũng nhấn mạnh phát triển hệ thống cấp cứu ngoại viện quốc gia. Theo đó, ngành y tế sẽ xây dựng hệ thống tổng đài quốc gia, thống nhất quản lý và điều phối cấp cứu ngoại viện trên phạm vi toàn quốc; hình thành một số trung tâm cấp cứu 115 hoàn chỉnh tại 6 vùng kinh tế - xã hội gắn với các bệnh viện cấp chuyên sâu. Mục tiêu là bảo đảm người dân được tiếp cận dịch vụ cấp cứu kịp thời ngay từ trước khi đến bệnh viện.

Đối với y tế dự phòng, Bộ Y tế định hướng sắp xếp và đầu tư phát triển các viện vệ sinh dịch tễ, Pasteur và các viện chuyên ngành hiện có để hình thành các viện chuyên sâu về phòng bệnh; nâng cao năng lực dự báo, giám sát, phòng chống dịch bệnh; phát triển phòng xét nghiệm an toàn sinh học cấp 3 cho các viện vệ sinh dịch tễ, Pasteur.

Trong lĩnh vực kiểm nghiệm, kiểm định, kiểm chuẩn, quy hoạch đặt mục tiêu nâng cấp viện quốc gia đạt tiêu chuẩn quốc tế; đầu tư nâng cao năng lực các trung tâm kiểm nghiệm tuyến tỉnh đạt tiêu chuẩn thực hành tốt phòng kiểm nghiệm, đáp ứng yêu cầu kiểm nghiệm thuốc, nguyên liệu làm thuốc, mỹ phẩm, thực phẩm, vaccine, sinh phẩm y tế, thiết bị y tế và các sản phẩm khác thuộc phạm vi quản lý của Bộ Y tế.

Ở lĩnh vực dân số - sức khỏe sinh sản, quy hoạch định hướng phát triển các dịch vụ kỹ thuật chuyên sâu về hỗ trợ sinh sản, tầm soát, chẩn đoán và điều trị sớm bệnh, tật trước sinh, sơ sinh. Bộ Y tế cũng phát triển 6 trung tâm sàng lọc, chẩn đoán trước sinh và sơ sinh khu vực hiện có, đồng thời hình thành thêm 2 trung tâm cấp vùng tại Bệnh viện A Thái Nguyên và Bệnh viện Đa khoa vùng Tây Nguyên.

Đến năm 2030, ngành y tế phấn đấu đạt 38 giường bệnh, 19 bác sĩ, 4 dược sĩ và 33 điều dưỡng trên 10.000 dân. Tầm nhìn đến năm 2050, mạng lưới cơ sở y tế từ Trung ương đến địa phương đủ năng lực đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe nhân dân tương đương nước phát triển, thu nhập cao; phấn đấu đạt 45 giường bệnh, 35 bác sĩ, 4,5 dược sĩ và 90 điều dưỡng trên 10.000 dân.

Một điểm mới trong tầm nhìn dài hạn là đầu tư xây dựng 2 khu phức hợp y tế chuyên sâu, gồm khu phức hợp miền Bắc tại Bắc Ninh và khu phức hợp miền Nam tại Tây Ninh. Cùng với đó, tiếp tục mở rộng mạng lưới bệnh viện chuyên khoa ung bướu, tim mạch, sản/sản nhi, lão khoa, phục hồi chức năng, y học cổ truyền, truyền nhiễm và sức khỏe tâm thần.

Bộ Y tế cũng đặt trọng tâm vào phát triển nguồn nhân lực, nhất là chính sách thu hút nhân lực chất lượng cao cho các lĩnh vực ưu tiên, vùng sâu, vùng xa, biên giới, biển đảo. Các trường đào tạo khối ngành sức khỏe sẽ được định hướng tăng quy mô đào tạo bác sĩ, dược sĩ, điều dưỡng; đồng thời chú trọng đào tạo chuyên gia dịch tễ học, y tế công cộng và các chuyên ngành sâu.

Về chuyển đổi số, quy hoạch xác định phát triển đồng bộ nền tảng số y tế, hạ tầng công nghệ thông tin, dữ liệu lớn ngành y tế, thiết bị y tế thông minh, hồ sơ sức khỏe điện tử, bệnh án điện tử, khám chữa bệnh từ xa. Bộ Y tế sẽ từng bước thiết lập hệ sinh thái y tế số quốc gia phục vụ quản lý, điều hành và hoạch định chính sách.

Bộ Y tế yêu cầu tăng cường liên kết giữa y tế dự phòng và khám chữa bệnh, giữa các tuyến, các vùng, giữa y tế công lập và y tế tư nhân; thiết lập cơ chế điều phối vùng, chuẩn hóa chất lượng, hỗ trợ chuyên môn kỹ thuật và giám sát hệ thống, bảo đảm phát triển kỹ thuật cao nhưng vẫn duy trì tính công bằng trong tiếp cận dịch vụ y tế giữa các địa phương.

Đức Trân