Điều trị ung thư phổi bước vào thời kỳ cá thể hóa
Từng được xem là căn bệnh có tiên lượng rất xấu do đa số người bệnh phát hiện ở giai đoạn muộn, ung thư phổi đang bước vào một giai đoạn điều trị mới. Sự phát triển của miễn dịch trị liệu, thuốc nhắm trúng đích và xét nghiệm sinh học phân tử giúp bác sĩ lựa chọn phác đồ phù hợp với đặc điểm khối u và thể trạng của từng người bệnh, qua đó mở rộng cơ hội kiểm soát bệnh và kéo dài thời gian sống.
Theo Globocan 2022, ung thư phổi nằm trong nhóm bệnh ung thư có số ca mắc mới và tử vong cao nhất tại Việt Nam. Khoảng 85% trường hợp thuộc nhóm ung thư phổi không tế bào nhỏ, còn lại là ung thư phổi tế bào nhỏ.
Bệnh thường tiến triển âm thầm. Nhiều người chỉ đi khám khi xuất hiện ho kéo dài, đau ngực, khó thở, ho ra máu, khàn tiếng hoặc sụt cân bất thường. Khi đó, khối u có thể đã phát triển tại chỗ hoặc di căn, làm giảm khả năng điều trị triệt căn.
Tuy nhiên, các chuyên gia nhận định những tiến bộ gần đây đang làm thay đổi rõ rệt cách tiếp cận ung thư phổi.
Bước ngoặt trong điều trị
Trước đây, nhiều người bệnh có cùng chẩn đoán thường được điều trị bằng những phác đồ tương đối giống nhau. Hiện nay, lựa chọn điều trị ngày càng dựa trên nhiều yếu tố như giai đoạn bệnh, loại mô bệnh học, đột biến gen, dấu ấn miễn dịch, thể trạng và khả năng đáp ứng của từng trường hợp.
Với ung thư phổi không tế bào nhỏ còn khả năng phẫu thuật, phẫu thuật vẫn giữ vai trò quan trọng. Tuy nhiên, việc chỉ cắt bỏ khối u chưa thể loại trừ hoàn toàn nguy cơ tái phát, bởi các ổ vi di căn có thể đã tồn tại nhưng chưa được phát hiện bằng phương tiện chẩn đoán hình ảnh.
BSCKII Lê Viết Nam, Viện Y học hạt nhân và Ung bướu, Bệnh viện Bạch Mai cho biết, xu hướng hiện nay là đưa điều trị toàn thân vào sớm hơn, gồm điều trị tân bổ trợ trước phẫu thuật hoặc điều trị chu phẫu cả trước và sau mổ.
Việc kết hợp hóa trị với miễn dịch trị liệu có thể giúp thu nhỏ khối u, tiêu diệt các tế bào ung thư vi thể, tăng khả năng phẫu thuật triệt căn và giảm nguy cơ bệnh quay trở lại.
Theo bác sĩ, nghiên cứu AEGEAN cho thấy tỷ lệ sống không tiến triển sau 3 năm ở nhóm điều trị kết hợp đạt khoảng 60%, cao hơn so với điều trị thông thường. Tỷ lệ đáp ứng hoàn toàn trên mô bệnh học cũng tăng rõ rệt mà không làm gia tăng đáng kể biến chứng phẫu thuật.
Để lựa chọn đúng người bệnh, bác sĩ cần xác định chính xác giai đoạn bằng các kỹ thuật như CT, PET/CT, MRI não, đồng thời thực hiện xét nghiệm sinh học phân tử và hội chẩn đa chuyên khoa.
Với ung thư phổi tế bào nhỏ, thể bệnh có tốc độ phát triển nhanh, di căn sớm và tiên lượng đặc biệt xấu, hóa trị từng là lựa chọn chủ yếu trong nhiều thập kỷ.
Theo ThS.BS Phạm Minh Lanh, Viện Y học hạt nhân và Ung bướu, Bệnh viện Bạch Mai, sự xuất hiện của liệu pháp miễn dịch kháng PD-L1 đã tạo ra thay đổi đáng kể. Khi phối hợp miễn dịch trị liệu với hóa trị ngay từ bước điều trị đầu tiên và tiếp tục duy trì sau đó, một số người bệnh có thể kéo dài thời gian kiểm soát bệnh và thời gian sống so với hóa trị đơn thuần.
Đây được xem là bước tiến quan trọng đối với thể ung thư từng có rất ít lựa chọn điều trị trong thời gian dài.
Cùng với miễn dịch trị liệu, việc giải mã đặc điểm di truyền và sinh học của khối u đang trở thành một trụ cột của điều trị cá thể hóa.
PGS.TS Phạm Văn Thái, Phó Viện trưởng Viện Y học hạt nhân và Ung bướu cho biết, các xét nghiệm như giải trình tự gen thế hệ mới hoặc hóa mô miễn dịch giúp phát hiện những đột biến và dấu ấn có thể trở thành mục tiêu điều trị.
Bên cạnh các đột biến thường được nhắc đến như EGFR và ALK, đột biến HER2 cũng đang được quan tâm. Nhóm này chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ trong ung thư biểu mô tuyến phổi không tế bào nhỏ nhưng có thể diễn tiến nhanh và đáp ứng hạn chế với các phương pháp điều trị truyền thống.
Một số thuốc thế hệ mới thuộc nhóm thuốc liên hợp kháng thể - thuốc và thuốc ức chế tyrosine kinase có khả năng nhận diện tế bào ung thư mang đột biến cụ thể, đưa hoạt chất tác động trực tiếp vào tế bào bệnh, qua đó tăng hiệu quả và hạn chế ảnh hưởng đến mô lành.
Việc xét nghiệm đầy đủ ngay từ đầu vì thế ngày càng giữ vai trò quan trọng trong xây dựng phác đồ. Cùng một chẩn đoán ung thư phổi, hai người bệnh có thể được điều trị hoàn toàn khác nhau nếu khối u mang những đặc điểm sinh học khác nhau.
Không hút thuốc vẫn có thể mắc ung thư phổi
PGS.TS.BS Phạm Cẩm Phương, Giám đốc Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu, Bệnh viện Bạch Mai cho biết, thuốc lá vẫn là yếu tố nguy cơ hàng đầu, nhưng không phải nguyên nhân duy nhất.
Thực tế lâm sàng ghi nhận nhiều người mắc ung thư phổi chưa từng hút thuốc, trong đó có phụ nữ, người nội trợ và nhân viên văn phòng.
Các yếu tố nguy cơ có thể gồm hút thuốc thụ động, ô nhiễm không khí, bụi mịn PM2.5, khí thải giao thông, hóa chất công nghiệp, khí radon trong không gian kín và khói sinh ra khi nấu ăn ở nhiệt độ cao tại khu vực thiếu thông khí.
Người có tiền sử lao phổi, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính hoặc gia đình có người mắc ung thư phổi cũng cần chú ý hơn đến việc theo dõi sức khỏe.
Việc cho rằng chỉ người hút thuốc mới có nguy cơ mắc bệnh có thể khiến những người không hút thuốc bỏ qua các dấu hiệu cảnh báo và đi khám muộn.
Dù phương pháp điều trị ngày càng hiện đại, thời điểm phát hiện bệnh vẫn quyết định lớn đến khả năng điều trị. Các dấu hiệu cần lưu ý gồm ho kéo dài trên 3 tuần, ho ra máu, đau tức ngực, khó thở, hụt hơi, khàn tiếng kéo dài, mệt mỏi hoặc sụt cân không rõ nguyên nhân.
Khi xuất hiện những biểu hiện này, người bệnh cần đến cơ sở y tế để được đánh giá, thay vì tự điều trị kéo dài hoặc chờ triệu chứng tự hết.
Đối với nhóm nguy cơ cao, chụp cắt lớp vi tính lồng ngực liều thấp có thể giúp phát hiện những tổn thương nhỏ mà X-quang thông thường dễ bỏ sót. Việc tầm soát cần được thực hiện theo tư vấn của bác sĩ, dựa trên tuổi, tiền sử hút thuốc và các yếu tố nguy cơ cụ thể.
Các chuyên gia cũng khuyến cáo người dân không hút thuốc, tránh tiếp xúc với khói thuốc thụ động, giảm phơi nhiễm khói bụi và hóa chất, giữ không gian sống thông thoáng, đặc biệt tại khu vực bếp.