Doanh nghiệp vẫn ngán thủ tục thông quan
Chi phí kiểm định cao, phí tiêu cực nhiều… tạo áp lực lớn cho doanh nghiệp (DN). Ngoài ra, sự chồng chéo trong quy trình kiểm tra chuyên ngành đối với hàng hóa xuất nhập khẩu làm giảm tính cạnh tranh của sản phẩm Việt… Đó là bức xúc mà DN lên tiếng tại hội thảo “Đơn giản hóa thủ tục kiểm tra chuyên ngành đối với hàng hóa xuất nhập khẩu”, do Tổng cục Hải quan và Usaid phối hợp tổ chức ngày 14 – 8, tại TP. HCM.

Kiểm tra hàng hóa
DN tốn tiền tỷ cho hoạt động kiểm tra
Rất nhiều DN than phiền là quá “ngán” với thủ tục kiểm tra chuyên ngành vì kiểm tra không có trọng tâm, trọng điểm, quá nhiều hàng hoá bị xếp vào dạng phải kiểm tra nên phát sinh nhiều chi phí không đáng có. Bên cạnh đó, ngoài phí kiểm tra, phí lưu hàng ngoài cửa khẩu, còn có cả các khoản “bôi trơn” để thủ tục được nhanh chóng. Ông Đinh Công Khương, Phó Giám đốc Công ty thép Khương Mai cho rằng. Thông tư 44 (quy định về chất lượng thép sản xuất trong nước và thép nhập khẩu) ra đời khiến ngành thép gặp rất nhiều khó khăn. Lý do, một năm chi phí cắt thử mẫu, cắt mẫu và chi phí tiêu cực mà công ty phải chi ở mức 20.000 đồng/1 tấn thép. Như vậy một năm nhập khoảng 600.000 tấn tính ra tốn 120 tỷ đồng. “Hơn nữa, có những lô hàng kiểm tra 4 -5 tháng vẫn chưa có kết quả. Nếu tình trạng chậm chạp trong kiểm tra kéo dài liên tục DN sẽ thiệt hại hàng tỷ đồng” ông Đinh Công Khương phàn nàn..
Đồng cảnh với ngành thép, ngành giày da cũng đang gồng gánh bất cập trong kiểm tra chuyên ngành đối với hàng nhập khẩu. Bà Thái Thị Hoa, đại diện Công ty giày Chinlu (Bến Lức, Long An) cho hay, công ty gia công giày thể thao thương hiệu quả Nike. Trong thực hiện có gia công nhiều giày mẫu, giày hội họp, giày chào hàng… Để có thể hoàn thiện sản phẩm công ty phải nhập một số vải và simil. Theo quy định, trước khi nhập hàng phải kiểm tra chất lượng. Cụ thể, cứ 25m nguyên liệu là phải lấy mẫu để kiểm tra, 10 mẫu giống nhau cũng phải kiểm tra. Trung bình mỗi tháng công ty, mất 40 - 50 triệu cho hoạt động kiểm tra mẫu.
Trước hàng loạt thắc mắc của DN về việc kiểm tra hàng hóa xuất nhập khẩu đại diện các bộ ngành khẳng định, những ý kiến của DN là cơ sở để bộ ngành cải cách. Loại hàng hóa không có nguy cơ và nguy cơ thấp đã được đưa ra khỏi danh mục kiểm tra. Cơ quan hữu quan tiếp tục rà soát quá trình áp dụng kiểm tra đối với các mặt hàng, cái gì không cần sẽ bỏ.
Chồng chéo quản lý
Không chỉ dừng lại ở chi phí kiểm tra và chi phí tiêu cực, DN còn phải tất bật với các quy định chồng chéo trong quản lý. Phạm Thị Kim Phụng, đại diện Công ty chuyên kinh doanh mặt hàng khí hóa lỏng cho hay, hàng lang pháp lý đối với mặt hàng tương đối đầy đủ chứ không như các mặt hàng khác. Song, đụng đến mặt hàng này thì vẫn còn vấn đề chồng chéo. Theo đó, hàng hóa muốn thông quan phải có chứng nhận hợp chuẩn hợp quy để có chứng thư, ngoài ra phải có kết quả của tiêu chuẩn đo lường chất lượng địa phương. Thường thời gian hoàn chỉnh thủ tục kéo dài dẫn đến tình trạng chậm hàng, năm tại kho kinh doanh bị ngắt quãng. “Rút ngắn thời gian thông quan bằng cách chỉ cần chứng nhận hợp chuẩn, hợp quy là được chứ không cần 2 tiêu chuẩn một lúc. 2 tiêu chuẩn cùng một lúc là sự chồng chéo, lãng phí”, bà Phạm Thị Kim Phụng bức xúc.
Khó chịu với quy định kiểm tra chuyên ngành với hàng hóa xuất nhập khẩu, ông Đặng Văn Hiếu, Công ty ALC, chuyên sản xuất thiết bị phụ bếp và dịch vụ nhập khẩu than phiền: “Năm 2015, DN nhập khẩu 1 ghế sofa phục vụ cho cuộc thi hoa hậu Việt Nam. Trung bình mỗi chiếc ghế có giá trị mấy chục triệu và cơ quan yêu cầu phải lấy mẫu cái ghế sofa. Tôi không hiểu lấy mẫu sản phẩm này là lấy mẫu như thế nào? Nên quy định rõ, cơ quan nào lấy mẫu, thời gian nào, tiêu chuẩn nào? Không thể chạy theo cơ quan chức năng năn nỉ sẽ mất thời gian và tiền bạc. Nếu có điều kiện thì nên xã hội hóa việc kiểm tra để chúng tôi có sự lựa chọn khác. Nhiều DN cho rằng nếu Bộ nào cũng yêu cầu theo kiểu đánh đố DN thì DN chỉ có nước phá sản. Bởi hiện nay, sự chồng chéo trong quản lý không hề nhỏ. Một mặt hàng có đến 2 – 3 Bộ ngành quản lý. Đơn cử, hàng tháng Vinamilk có khoảng 100 tờ khai trong đó 2/3 tờ khai chịu sự quản lý của 2 Bộ.
Nhận định về hoạt động kiểm tra chuyên ngành đối với hàng hóa xuất nhập khẩu ông Phạm Thanh Bình, chuyên gia dự án GIG, tỷ lệ kiểm tra chuyên ngành đối với mặt hàng xuất nhập khẩu liên tục tăng. Tại Hải Phòng, năm 2014 tỷ lệ kiểm tra chuyên ngành đối với hàng hóa ở mức 40 – 44%. 6 tháng đầu năm số lượng tờ khai thực vật tăng 10% so với năm 2014. Tương tự, tại sân bay Tân Sơn Nhất (TP. HCM) TSN, tỷ lệ kiểm tra chuyên ngành 30 – 35% trong năm 2014 nhưng 6 tháng đầu năm 2015 thì tỷ lệ kiểm tra đối với hàng xuất khẩu là 70%, hàng nhập khẩu ở mức đỉnh điểm 80%. Theo ông Phạm Thanh Bình, hải quan thực hiện kiểm tra nhiều nhưng hiệu quả ít. Các Bộ ngành cùng thực hiện Nghị quyết 19 của Chính phủ song kết quả chưa rõ lắm. Chủ yếu mới thực hiện cải tiến chứ chưa phải là cải cách.