Đơn giản hóa cấp mã số vùng trồng: Mở lối cho nông sản Việt tăng tốc xuất khẩu
Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm, thực hiện toàn trình trên môi trường số, phân cấp cho cấp xã cấp mã số vùng trồng và cơ sở đóng gói, tạo thuận lợi cho người dân, hợp tác xã và doanh nghiệp (DN), đồng thời nâng cao hiệu quả quản lý và năng lực cạnh tranh của nông sản Việt.
Ngày 4/8, tại Hà Nội, Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức Hội nghị triển khai thực hiện Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP của Chính phủ về đơn giản hóa thủ tục hành chính đối với mã số vùng trồng và mã số cơ sở đóng gói. Hội nghị được tổ chức theo hình thức trực tiếp kết hợp trực tuyến tới 34 tỉnh, thành phố cùng các xã, phường, đặc khu trên cả nước với sự tham gia của các hiệp hội ngành hàng, DN và các tổ chức, cá nhân liên quan.
Nghị quyết số 36 được đánh giá là bước cải cách quan trọng trong lĩnh vực trồng trọt, thể hiện quyết tâm đẩy mạnh phân cấp, cải cách thủ tục hành chính, chuyển đổi số và đổi mới phương thức quản lý nhà nước theo hướng hiện đại, minh bạch và hiệu quả.
Hội nghị nhằm phổ biến, quán triệt và triển khai thống nhất các quy định mới về đăng ký, cấp và quản lý mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói trên phạm vi toàn quốc. Việc triển khai đồng bộ từ Trung ương đến địa phương được kỳ vọng sẽ tạo thuận lợi tối đa cho người dân, hợp tác xã và DN, đồng thời đáp ứng yêu cầu truy xuất nguồn gốc, nâng cao năng lực quản lý và mở rộng thị trường xuất khẩu nông sản.

Theo ông Huỳnh Tấn Đạt, Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) điểm mới nổi bật của Nghị quyết 36 là toàn bộ thủ tục cấp mã số vùng trồng và mã số cơ sở đóng gói sẽ được thực hiện trên môi trường điện tử thông qua Cổng Dịch vụ công quốc gia. Tổ chức, cá nhân thực hiện theo nguyên tắc tự kê khai và tự chịu trách nhiệm về thông tin cung cấp. Phương thức quản lý mới không chỉ nâng cao tính minh bạch, đáp ứng yêu cầu truy xuất nguồn gốc mà còn giảm đáng kể thời gian và chi phí thực hiện thủ tục.
Một thay đổi quan trọng khác là chuyển phương thức quản lý từ tiền kiểm sang hậu kiểm theo mức độ rủi ro. Đối với các trường hợp không đăng ký xuất khẩu sang thị trường yêu cầu mã số, cơ quan quản lý sẽ áp dụng cơ chế hậu kiểm. Chỉ những hồ sơ đăng ký xuất khẩu sang các thị trường yêu cầu phê duyệt mã số mới thực hiện kiểm tra trước khi cấp.
Nghị quyết cũng đẩy mạnh phân cấp khi giao UBND cấp xã trực tiếp tiếp nhận hồ sơ, cấp mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói và thực hiện hậu kiểm. Việc phân cấp được triển khai trên hệ thống quản lý thống nhất, đi kèm hướng dẫn chuyên môn, tập huấn và cơ chế giám sát của cơ quan chuyên môn cấp tỉnh và Bộ Nông nghiệp và Môi trường.
Theo Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Hoàng Hiệp, Nghị quyết số 36 được Chính phủ ban hành nhằm kịp thời tháo gỡ những bất cập trong quản lý mã số vùng trồng và mã số cơ sở đóng gói hiện nay.

"Nghị quyết tập trung vào hai mục tiêu lớn là đơn giản hóa thủ tục hành chính và tạo môi trường thuận lợi hơn cho hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh trong lĩnh vực mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói. Đồng thời, Chính phủ giao Bộ Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với Bộ Tư pháp cùng các bộ, ngành, địa phương khẩn trương sửa đổi Nghị định số 38 để hoàn thiện khung pháp lý", Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp cho biết.
Cũng theo Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp để Nghị quyết đi vào cuộc sống ngay sau khi được ban hành, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã ban hành văn bản đề nghị các địa phương khẩn trương xây dựng kế hoạch triển khai; tập trung nguồn lực hỗ trợ cấp xã thực hiện nhiệm vụ; tổ chức tập huấn, hướng dẫn; chuẩn hóa dữ liệu vùng trồng, cơ sở đóng gói; tăng cường kiểm tra, giám sát; đẩy mạnh tuyên truyền; đồng thời giao nhiệm vụ cụ thể cho các đơn vị thuộc Bộ trong việc hoàn thiện hệ thống số, hướng dẫn kỹ thuật, kết nối dữ liệu và hỗ trợ địa phương trong quá trình thực hiện.
Việc thực hiện đồng bộ Nghị quyết số 36 được kỳ vọng sẽ tạo bước chuyển căn bản trong quản lý mã số vùng trồng và mã số cơ sở đóng gói theo hướng hiện đại, minh bạch và hiệu quả hơn. Qua đó, góp phần giảm thời gian và chi phí thực hiện thủ tục hành chính, thúc đẩy chuyển đổi số, tăng cường truy xuất nguồn gốc, xây dựng các vùng nguyên liệu tập trung đáp ứng tiêu chuẩn của thị trường trong nước và quốc tế, nâng cao năng lực cạnh tranh và gia tăng giá trị cho ngành trồng trọt Việt Nam.