Đồng bằng sông Cửu Long: Biến đổi khí hậu cần phải hành động ngay
Đây là nhận định của các địa phương và nhà khoa học tại hội thảo chuyên đề môi trường biến đổi khí hậu và nông nghiệp/ngư nghiệp, nằm trong khuôn khổ, hợp tác Việt Nam-Pháp lần thứ 10 diễn ra tại Cần Thơ ngày 15/9/2016.

Hạn hán đang ngày càng gay gắt tại ĐBSCL.
Nhiều yếu tố bất định của con người làm biến đổi khí hậu nặng nề hơn
Việt Nam là nước xếp hàng thứ 5 trong các quốc gia bị tác động nặng nề nhất, thì ĐBSCL trong đó có Cần Thơ được đánh giá là 1 trong 3 đồng bằng có nguy cơ cao nhất thế giới do biến đổi khí hậu.
Theo ông Đào Anh Dũng, Phó chủ tịch UBND thành phố Cần Thơ: Là địa bàn khá xa với biển nhưng trong đợt hạn hán, xâm nhập mặn mới đây Cần Thơ đã ghi nhận được độ mặn lên đến 2%0 cao nhất trong vòng cả trăm năm qua.
Ông Dũng còn cho biết: Vùng ĐBSCL hiện nay không chủ động được nguồn nước mặt. Ngoại trừ sông Hậu, chất lượng nước mặt hiện nay đã suy giảm đáng kể do ô nhiễm chất hữu cơ, nước không còn nhiều phù sa, đa dạng sinh học bị suy giảm. Mực nước ngầm thấp hơn 3,5m so với trước đây, có khi còn bị ô nhiễm do hữu cơ, kim loại nặng và nhiễm mặn.
GS TS Nguyễn Ngọc Trân cho biết: Nằm tận cùng châu thổ Mekong, ĐBSCL là địa bàn giao thoa giữa quá trình sông từ thượng nguồn về và quá trình xâm thực của biển. Từ sự giao thoa này ĐBSCL được phân chia làm 3 tiểu vùng (nơi quá trình sông chiếm ưu thế; nơi quá trình biển chiếm ưu thế; nơi mà 2 quá trình tranh chấp và cân bằng động).
Giáo sư Trân cho rằng: Các yếu tố bất định đến từ biến đổi khí hậu, từ việc khai thác tài nguyên nước trên thượng nguồn châu thổ, bao gồm việc chuyển nước (trong lưu vực và ra ngoài lưu vực), và nhất là việc khai thác thủy điện trên dòng chính sông Mekong từ cao nguyên Tây tạng trở xuống, trong khi đó nhu cầu về nước cho sản xuất và đời sống ngày càng tăng (MRC 2009).
Trong lúc Trung Quốc đang tích cực hoàn thành 14 đập thủy điện trên sông Lancang vào năm 2020 thì ở hạ lưu vực đã bắt đầu việc xây dựng 11 đập thủy điện trên dòng chính với các đập Xayaburi, Don Sahong và sắp tới Pakbeng. Thái Lan thì chuyển một lượng nước từ sông Mekong sang lưu vực sông Chao Phraya.
Các đập thủy điện biến dòng chảy liên tục theo trọng lực thành một chuỗi đập, thay đổi sinh thái thủy văn trong lưu vực, giữ lại một lượng nước và trầm tích quan trọng trong các lòng hồ, gây nên thâm hụt trong cán cân trầm tích ở hạ du, làm thay đổi địa mạo lòng sông, cửa biển và đường bờ biển.
Những bất động đến từ tác động của con người. Mất rừng ngập mặn, bờ biển mất đi đệm chắn sóng thiên nhiên và khả năng quyện giữ phù sa. Mất rừng tràm, đa dạng sinh học và môi trường vùng ngập nước trở nên nghèo kiệt, mực thủy cấp vùng trũng hạ thấp.
Khai thác cát dọc sông Tiền, sông Hậu không quản lý được làm trầm trọng thêm sự thâm hụt của cán cân trầm tích. Khai thác nước ngầm quá mức góp phần làm mặt đất đồng bằng sụt lún. Việc khai thác tài nguyên như trên làm cho việc ứng phó càng khó khăn bởi lẽ mực nước biển dâng thực tế lớn hơn nhiều mực nước biển dâng tương đối.
Theo ý kiến của nhóm chuyên gia Pháp AFD/IRD/CIRD: Thách thức, ở ĐBSCL chủ yếu trồng thâm canh. Việc gia tăng sử dụng các sản phẩm hóa học đặc biệt là phân bón, thuốc trừ sâu sẽ ảnh hướng tới độ màu của đất.
Hiện nay người dân chủ yếu thuốc trừ sâu cho phép, tạo nên tác động rất lớn đến người dân và người tiêu dùng. Ngoài ra, người dân phụ thuộc vào chi phí sản xuất, chi phí sản xuất tăng dẫn tới thu nhập thấp.

Nhiều con kênh ở ĐBSCL đã cạn trơ dòng.
Hành động ngay vì sự phát triển bền vững của ĐBSCL
Ông Đào Anh Dũng cho rằng với các khó khăn trên, Cần Thơ nói riêng và ĐBSCL nói chung cần đẩy mạnh chiến lược chống chịu với 3 mũi cơ bản: Chủ động quản trị nguồn nước để cung cấp đầy đủ nước cho sinh hoạt và sản xuất, bảo vệ tài sản và tính mạng của cộng đồng dân cư dù có thiên tai hay có các tác động bất lợi từ thượng nguồn; Chủ động tạo sinh kế và hỗ trợ nhà ở an toàn cho người nghèo và các thành phần dễ bị tổn thương; Ổn định vững chắc kinh tế nông nghiệp và công nghiệp đồng thời chủ động đẩy mạnh, tăng cường tỷ trọng khu vực dịch vụ trong cơ cấu kinh tế để tăng cường dự trữ xã hội đủ năng lực chống chịu các nguy cơ khó dự báo trong tương lai.
GS TS Nguyễn Ngọc Trân nhận định: Ứng phó với biến đổi khí hậu ĐBSCL là nhằm ổn định cuộc sống của người dân, tổ chức lại sản xuất, tìm ra sinh kế giúp người dân làm giàu trong điều kiện tự nhiên và sinh thái mới, hạn chế tối đa “sự di dân sinh thái”.
Ông Trân đưa ra các giải pháp để ứng phó biến đổi khí hậu như: Ở tầm Quốc tế, đã đến lúc 6 nước trong lưu vực phải xây dựng một cơ chế sử dụng nguồn nước, trong đó quyền và lợi ích của mỗi quốc gia phải đi đôi với trách nhiệm và nghĩa vụ đối với cả lưu vực.
Công việc này khó nhưng phải kiên trì. Công ước Liên hiệp quốc về dòng chảy các sông, Vienna 1997, là một cơ sở tốt để tham khảo. Hiệp định Ủy Hội sông Mekong 1995 cũng là một cở sở để rút kinh nghiệm nhằm đi đến những quy định mang tính ràng buộc hơn.
Sự khan hiếm nước ngọt và các tình huống cực đoan có thể sẽ xảy ra bất cứ lúc nào và ngày càng gay gắt hơn, với cường độ mạnh hơn. Ông Trân cho rằng: Chung sống với nước mặn, xem nước mặn và lợ là một dạng tài nguyên cần được khai thác.
Hơn thế, biến “thách thức mặn” thành lợi thế của vùng đất duy nhất của lưu vực tiếp giáp với biển, sẽ mở ra những tiềm năng và khát vọng mới cho đồng bằng. Xây dựng cơ chế sử dụng nguồn nước cho sông Mekong như đã nói ở trên, được quy định bằng một điều ước quốc tế.
Nghiên cứu những biện pháp phi công trình, từ các giống cây, con cho vùng lợ, mặn, đến quy hoạch đô thị, các vật liệu xây dựng nhẹ, bền cho vùng đất ngập mặn, lọc nước mặn thành nước ngọt ở các quy mô khác nhau.
Có chính sách để tái tạo rừng ngập mặn, rừng tràm ở những vùng trũng trong Đồng Tháp Mười, Tứ giác Long Xuyên, Bán đảo Cà Mau. Mô hình phát triển ở đồng bằng phải chuyển từ chiều rộng sang chiều sâu, từ số lượng sang chất lượng, hiệu quả và phát thải ít khí nhà kính.
Nhà nước phải có chính sách để khôi phục rừng ngập mặn, rừng tràm, quản lý tốt hơn việc khai thác tài nguyên, theo dõi, đo đạc và lưu trữ số liệu về lượng phù sa chảy về đồng bằng, về khai thác cát sông, về khai thác nước ngầm (tụt giảm của mực nước ngầm), về độ sụt lún mặt đất tự nhiên và gia tốc. Có chính sách để hạn chế tối đa sự lún chìm của đồng bằng.
Ông Nguyễn Ngọc Trân cũng đề nghị với Pháp về một số nội dung hợp tác trong công tác ứng phó với biến đổi khí hậu như: Cần trao đổi kinh nghiệm xây dựng cơ chế sử dụng nguồn nước các sông quốc tế (Rhin, Rhône, …), quy định quốc gia và quy định châu Âu; Trao đổi kinh nghiệm xây dựng cơ chế sử dụng nguồn nước theo lưu vực các sông nội địa; Trao đổi kinh nghiệm trong trữ và sử dụng tiết kiệm nguồn nước, đặc biệt trong tưới tiêu; Hợp tác giữa các địa phương có vùng ngập nước (ngọt và mặn): quy hoạch phát triển (sản xuất, du lịch, …), quy hoạch các điểm dân cư, cung cấp nước ngọt (nếu là vùng ngập nước mặn); Biến nước biển thành nước ngọt ở các quy mô khác nhau phục vụ sản xuất và đời sống; Trao đổi kinh nghiệm bảo vệ bờ biển ở các cửa sông; Nghiên cứu các giống cây, con cho các vùng lợ và mặn; Sản xuất vật liệu xây dựng nhẹ, chịu lực bền, trong môi trường mặn…