Báo Đại Đoàn Kết Kinh tế

Đồng bằng sông Cửu Long: Tìm giải pháp kiểm soát mặn, trữ nước ngọt

Báo Đại Đoàn Kết Tăng kích thước chữ

Đồng bằng sông Cửu Long: Tìm giải pháp kiểm soát mặn, trữ nước ngọt

Báo Đại Đoàn Kết trên Google News

Ngày 13/7, Ban chỉ đạo Tây Nam bộ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, UBND tỉnh Hậu Giang tổ chức Hội nghị bàn giải pháp kiểm soát mặn, trữ nước ngọt phục vụ sản xuất và dân sinh vùng ĐBSCL.

Sông ngòi cạn trơ đáy.

Tại hội thảo nhiều đại biểu đã đưa ra các giải pháp nhằm kiểm soát mặn và nhiều giải pháp cấp bách trữ nước để cứu ĐBSCL. Theo Viện Khoa học Thủy Lợi Miền Nam: Cần tiếp tục đầu tư, xây dựng các công trình thủy lợi, nâng cấp hệ thống đê biển từ Quảng Ngãi đến Kiên Giang; kết hợp tuyến đê biển vùng ĐBSCL với đường giao thông ven biển. Hạn chế lũ tràn từ biên giới vào vùng ĐBSCL bằng hướng thoát lũ ra biển Tây (vùng Tứ giác Long Xuyên), sang sông Vàm Cỏ và qua sông Tiền (vùng Đồng Tháp Mười).

Tăng cường khả năng trữ nước trên các sông lớn và trên hệ thống kênh rạch đảm bảo nguồn nước ngọt cấp cho toàn vùng ổn định và bền vững. Kết hợp chặt chẽ các công trình thủy lợi, giao thông, dân cư trong tổng thể phát triển cơ sở hạ tầng chung nhằm đạt được hiệu quả cao trong đầu tư. Xây dựng và nâng cấp các cụm tuyến dân cư và bảo vệ các thị trấn, thị xã, thành phố trong vùng ngập do lũ và nước biển dâng.

Cũng theo ông Nguyễn Trọng Uyên - Phân viện quy hoạch và thiết kế nông nghiệp miền Nam: Ngoài các giải pháp trước mắt, song song đó cũng phải thực hiện các giải pháp lâu dài bền vững như: Trồng rừng ngập mặn ven biển và bảo vệ các khu vườn quốc gia tại ĐBSCL; trồng cây chắn sóng đối với các khu vực đê bao chống lũ triệt để ở các khu vực ngập lũ. Nghiên cứu, đánh giá tổng thể diễn biến sạt lở bờ hệ thống sông Tiền, sông Hậu trong điều kiện biến đổi khí hậu, nước biển dâng để đề xuất phương án bảo vệ các thành phố, thị xã, khu vực dân cư tập trung.

Đề xuất các giải pháp chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp, cây trồng, vật nuôi thích hợp ứng phó với biến đổi khí hậu (tưới tiết kiệm nước, lai tạo giống lúa chịu mặn, chịu hạn, chịu ngập) và tình trạng khan hiếm nguồn nước ngọt, xâm nhập mặn gia tăng và ảnh hưởng của lũ kết hợp triều cường trong khu vực. Nghiên cứu các giải pháp trữ nước ngọt trong các ô ruộng và hệ thống kênh rạch phục vụ phát triển kinh tế xã hội, cũng như xây dựng các hồ chứa nhỏ phục vụ cho dân sinh; tích cực hợp tác với các nước thượng lưu trong khai thác, sử dụng và bảo vệ nguồn nước…

GS.TSKH Nguyễn Ngọc Trân cho rằng: Cần phải có các giải pháp đồng bộ không chỉ trong nước mà còn cho cả 6 quốc gia có chung dòng sông Mekong. Đồng thời cần theo dõi sát các diễn biến phức tạp của tình trạng BĐKH trên toàn cầu, để có thể chủ động trong việc ứng phó.

Thành lập Ủy ban lưu vực sông Cửu Long để tăng cường công tác điều phối, giám sát hoạt động khai thác, sử dụng, bảo vệ tài nguyên nước, phòng, chống tác hại do nước gây ra trên đồng bằng nhằm giải quyết hài hòa, có hiệu quả, bền vững các vấn đề về tài nguyên nước giữa các bên liên quan, giữa thượng lưu, hạ lưu và giữa khai thác với bảo vệ; củng cố và tăng cường bộ máy quản lý tài nguyên nước ở các cấp, nhất là cấp Sở và Phòng TN&MT cấp huyện trên toàn đồng bằng.

Thứ trưởng Bộ NN&PTNT, Hoàng Văn Thắng nhấn mạnh: Thời gian qua chúng ta đã sử dụng quá mức các nguồn tài nguyên thiên nhiên, về lâu dài nếu tình hình trên vẫn tiếp diễn sẽ kéo theo rất nhiều hệ lụy khó lường. Tiếp tục hoàn thiện thể chế. Phục hồi và phát triển rừng ngập mặn và sinh kế gắn liền với rừng ngập mặn. Tập trung nạo vét các kênh thủy lợi. Phát huy lợi thế vùng nước lợ. Nâng cao hiệu quả quản lí, sử dụng tiết kiệm nước cho vùng ĐBSCL. Huy động nguồn lực, trí tuệ, tâm huyết đóng góp từ lực lượng các nhà nghiên cứu, nhà khoa học trong trong và ngoài để tăng cường tính hiệu quả trong công tác ứng phó với BĐKH…

Các nhà khoa học nhận định: tài nguyên nước mặt, tài nguyên nước dưới đất đang đặt ra nhiều thách thức cần có giải pháp tổng thể nhằm đảm bảo an ninh nguồn nước. Tại hội thảo, Phân viện qui hoạch và thiết kế nông nghiệp đề ra định hướng chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, thủy sản thích ứng với biến đổi khí hậu (BĐKH) vùng ĐBSCL trong đó mô hình lúa – tôm được đánh giá là mô hình chuyển đổi cho hiệu qủa kinh tế cao và bền vững, có khả năng ứng phó với điều kiện BĐKH ở các tỉnh ven biển.

Về sản xuất rau màu, các tỉnh, thành đã chuyển đổi một số cây trồng chủ lực như: cây bắp, rau, mía, được trên 78.495 ha. Bên cạnh đó, diện tích cây lâu năm bao gồm cây công nghiệp và cây ăn trái cũng đã chuyển đổi gần 43.000 ha. Cơ cấu chăn nuôi ở ĐBSCL cũng được chuyển đổi sang các loại gia cầm, heo, bò, trâu và vật nuôi khác thích hợp. Về thủy sản, các tỉnh đã chuyển dịch nuôi thủy sản nước mặn, nước lợ, nước ngọt nên diện tích nuôi thủy sản nước mặn, lợ tăng 19.200 ha so với 2010.

Theo định hướng của Bộ NN&PTNT vùng ĐBSCL định hướng hạn chế đến mức thấp nhất chuyển đất nông nghiệp tốt, đất trồng lúa sang đất phi nông nghiệp; ổn định quỹ đất trồng lúa khoảng 1,7 triệu ha; chuyển đất lúa kém hiệu quả sang các cây trồng khác, tăng diện tích luân canh lúa – màu lên 185.000-200.000 ha và lúa – thủy sản lên 240.000-300.000 ha; tăng diện tích cây lâu năm lên 400.000-500.000 ha; tăng đất lâm nghiệp lên khoảng 330.000 ha; tăng diện tích nuôi trồng thủy sản lên 542.000 ha; giảm đất sản xuất muối còn 4.600-4.800 ha.

Viện khoa học thủy lợi miền Nam giới thiệu các mô hình sinh kế trong dự án chống chịu khí hậu tổng hợp và sinh kế bền vững tại ĐBSCL. Các tỉnh trong vùng ĐBSCL cũng nêu kinh nghiệm và giải pháp ứng phó trong mùa khô vừa qua cũng như nêu giải pháp kiểm soát mặn, trữ nước ngọt phục vụ sản xuất lúa, bảo vệ vườn cây ăn trái.

Tuấn Quang - Quốc Trung