Dòng chảy hội nhập
Cuối tuần trước, Thường vụ Quốc hội đã tập trung đánh giá Báo cáo giám sát về kết quả thực hiện hội nhập kinh tế quốc tế kể từ khi Việt Nam gia nhập WTO năm 2007.

Đẩy mạnh cơ giới hóa nông nghiệp.
Đánh giá trong Báo cáo giám sát cho thấy, 8 năm gia nhập tổ chức thương mại thế giới, đã tạo ra những tác động tích cực về mở rộng thị trường, đầu tư đối với các ngành hàng của Việt Nam, rõ nét nhất là tăng trưởng xuất khẩu và tăng thị phần xuất khẩu. Điều này là hết sức có ý nghĩa nếu nhớ lại, khi gia nhập WTO năm 2007, chúng ta phải chịu những tác động của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế thế giới và khu vực; cùng với đó, những điều chỉnh chính sách kinh tế vĩ mô trong nước, tăng trưởng kinh tế có nhiều biến động tại các thời điểm khác nhau.
Năm 2007, việc trở thành thành viên WTO đã giúp Việt Nam mở rộng thị trường xuất khẩu, thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài, góp phần đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế cao (7,13%).
Tốc độ tăng trưởng kinh tế ở các khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản; công nghiệp và xây dựng; dịch vụ cho thấy sự thay đổi về cơ cấu so với trước khi gia nhập WTO. Trong giai đoạn 2001-2006, tốc độ tăng trưởng cao nhất thuộc về khu vực công nghiệp và xây dựng (9,37%), sau đó là dịch vụ (7,21%) và nông, lâm, ngư nghiệp (3,85%).
Từ năm 2007 đến nay (trừ năm 2014) tốc độ tăng trưởng cao nhất thuộc về khu vực dịch vụ, tiếp đó là công nghiệp và xây dựng; nông, lâm, ngư nghiệp. Tính trung bình năm giai đoạn 2007-2014, tốc độ tăng trưởng của khu vực dịch vụ; công nghiệp và xây dựng; nông, lâm, ngư nghiệp lần lượt là 6,88%; 6,2% và 3,33%. Sự phát triển mạnh của khu vực dịch vụ có sự tác động tích cực từ việc mở cửa thị trường dịch vụ theo cam kết quốc tế.
Riêng năm 2014, khu vực dịch vụ vẫn tăng khá (5,96%) nhưng chỉ đứng thứ hai do sự phát triển vượt trội của khu vực công nghiệp và xây dựng (7,14%), khu vực nông, lâm, ngư nghiệp ở mức 3,49%. Sự phát triển mạnh của khu vực công nghiệp và xây dựng trong năm 2014 có sự đóng góp tích cực của công nghiệp chế biến, chế tạo (lĩnh vực thu hút nhiều vốn FDI) với mức tăng cao là 8,45% (các ngành sản xuất đồ uống; dệt; sản xuất trang phục; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan; sản xuất giấy; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc thiết bị); sản phẩm điện tử máy tính; sản xuất xe có động cơ là những ngành có đóng góp lớn với chỉ số sản xuất tăng trên 10%).
Năm 2014, ngành thủy sản nằm trong tốp 5 nhà sản xuất và xuất khẩu hàng đầu thế giới, hàng thủy sản Việt Nam có mặt trên 160 quốc gia và vùng lãnh thổ với kim ngạch xuất khẩu đạt 7,84 tỷ USD cao hơn so với năm 2007 (3,76 tỷ USD). Việt Nam trở thành một trong 10 quốc gia có kim ngạch xuất khẩu dệt may hàng đầu thế giới với kim ngạch xuất khẩu liên tục tăng cao, từ mức 5,9 tỷ USD của năm 2006 lên 24,692 tỷ USD năm 2014, tăng 17,07% so với năm 2013 và bằng 418,5% so với năm 2006. Thị trường viễn thông Việt Nam xếp thứ 13 trên thế giới về quy mô và tốc độ phát triển trên ba lĩnh vực cố định, di động và Internet.
Những con số đã nói lên khả năng thích ứng của nội tại nền kinh tế; trong điều kiện những năm đầu tiên chúng ta vẫn chỉ “dò dẫm” hội nhập. Nhưng nhìn lại 8 năm, điều quan trọng hơn cả là tìm ra những “điểm huyệt” khiến chúng ta hội nhập chưa đạt tốc độ như mong muốn. Tìm ra đúng và trúng những điểm hạn chế ấy chính là cách tốt nhất để điều chỉnh chính sách với mục tiêu giúp nền kinh tế hội nhập tốt nhất trong bối cảnh toàn cầu hóa đã trở thành xu thế tất yếu.
Trong phiên họp thứ 41 của Thường vụ Quốc hội, khi đánh giá về vấn đề này, những câu hỏi: Nền kinh tế và sự phát triển của nước ta có tiến bộ, có rút ngắn khoảng cách phát triển với các nước sau khi gia nhập WTO hay chưa? Chất lượng tăng trưởng kinh tế, các yếu tố cấu thành, sức cạnh tranh của nền kinh tế tốt chưa? Nói cách khác là vấn đề chúng ta đang tiến lên hay giẫm chân tại chỗ đã được đặt ra thẳng thắn.
Theo Chủ tịch QH Nguyễn Sinh Hùng phân tích, tăng trưởng kinh tế duy trì ở mức khá nhưng chất lượng thế nào thì lại là một vấn đề. Vấn đề được Chủ tịch QH phân tích chính là khía cạnh, nông nghiệp, nông dân trong một nước nông nghiệp vẫn đóng vai trò chủ đạo; khi hội nhập, bộ phận này lẽ ra phải phát triển mạnh mẽ mới phù hợp nhu cầu thời đại; thế nhưng, Báo cáo giám sát cho thấy nhiều cái giảm: Tốc độ, chất lượng hàng hóa cạnh tranh giảm tương đối, ảnh hưởng đến mục tiêu giảm nghèo, mục tiêu phát triển xã hội.
Thậm chí, hệ thống chính sách thu hút nguồn nhân lực từ khu vực tư nhân chưa đủ mạnh; một số dự án luật quan trọng để thực hiện cam kết chậm được ban hành; một số văn bản pháp luật quan trọng đã được ban hành thì chất lượng lại yếu kém; chậm hình thành hệ thống quy định pháp luật để bảo vệ thị trường nội địa, doanh nghiệp trong nước như: chống bán phá giá, hàng rào kỹ thuật, chống chuyển giá, chống buôn lậu, gian lận thương mại cũng như tăng cường năng lực chuyên môn các cơ quan tư pháp, trọng tài quốc tế trong các tranh chấp quốc tế liên quan đến hàng hóa, doanh nghiệp Việt Nam... - Báo cáo giám sát nêu rõ. Phân tích rõ hơn thì đó chính là lỗi hệ thống - theo cách nói của Chủ tịch Hội đồng Dân tộc Ksor Phước.
Lỗi hệ thống ở đây xuất phát từ chính con người và tư duy của con người. Rõ ràng, trong hội nhập chúng ta không bao giờ chấp nhận bị “hòa tan”; bởi sẽ là mạo hiểm khi quyết định hội nhập bằng mọi giá. Nhưng đủng đỉnh về ban hành chính sách, mặt trái của nó đã khiến chúng ta tự loại bỏ đi những cơ hội vàng của chính mình. Thậm chí, đến nhiều cán bộ còn “lơ mơ về chủ trương hội nhập”- nói như Phó Chủ tịch QH Uông Chu Lưu.
Minh chứng cho cái sự “lơ mơ” mà Phó Chủ tịch QH nói chính là một bộ phận cán bộ còn chậm đổi mới tư duy, năng lực hạn chế; cán bộ pháp chế, cán bộ tham gia vào công tác xây dựng pháp luật và theo dõi thi hành pháp luật ở nhiều bộ, ngành, địa phương còn thiếu và yếu, lúng túng khi triển khai nhiệm vụ liên quan đến các cam kết WTO.
Khoảng 20% cán bộ pháp chế của các bộ, ngành chưa có bằng cử nhân luật; 32/63 tỉnh chưa thành lập được phòng pháp chế ở đầy đủ các cơ quan chuyên môn trực thuộc UBND tỉnh. Như thế là đã rõ phần nào, nguyên nhân của mọi nguyên nhân chính là sự chưa bắt kịp với dòng chảy thời đại, chính là chưa có sự thay đổi cho phù hợp hoàn cảnh của chủ thể - con người, trong xu thế hội nhập chung. Đến bao giờ những chủ thể ấy mới tiến kịp với xu thế để không còn lơ mơ với hội nhập!? Câu hỏi lớn đang chờ câu trả lời từ chính những chủ thể của hội nhập kinh tế quốc tế.