Dòng sông của những làng di sản phương Nam
Kéo dài từ biên giới tới vùng biển Đông, sông Vàm Cỏ Đông-Vàm Cỏ là dòng sông êm đềm, hiền hoà không chỉ đi vào thơ nhạc mà còn tạo ra những làng nghề độc đáo nơi dòng nước đi qua. Trong đó có làng nghề với lịch sử hàng trăm, được công nhận là Di sản văn hoá phi vật thể Quốc gia, như nghề làm muối tôm, nghề bánh tráng, nghề làm trống, nghề dệt chiếu lác, nghề làm món chay… Dù ở thượng nguồn hay hạ lưu, các làng nghề ấy cũng lấp ló bóng dáng của dòng sông êm đềm, từ quá khứ tới hiện tại.

Di sản của dòng sông hiền hoà
Nổi tiếng với những giai điệu ngọt ngào “Ở tận sông Hồng em có biết, quê hương anh cũng có dòng sông. Anh mãi gọi với lòng tha thiết, Vàm Cỏ Đông ơi Vàm Cỏ Đông…” của nhạc sĩ Trương Quang Lục, phổ thơ nhà thơ Hoài Vũ. Sông Vàm Cỏ Đông bắt đầu từ vùng biên giới Tây Ninh sau đó chảy xuôi qua các vùng Gò Dầu, Trảng Bàng, Đức Huệ, Đức Hoà rồi gặp sông Vàm Cỏ Tây (cũng bắt nguồn từ biên giới Tây Ninh) để mang tên Vàm Cỏ ở khu vực Miếu ông Bần Quỳ (một Di tích lịch sử cấp tỉnh của tỉnh Tây Ninh trên địa bàn xã Vàm Cỏ). Dù mang tên Vàm Cỏ Đông, Vàm Cỏ Tây hay Vàm Cỏ thì dòng sông “ba trong một” này chính là dòng sông lớn nhất, có ý nghĩa nhất với hàng triệu người dân Tây Ninh, trong suốt chiều dài lịch sử.
Trên quãng được khoảng 200 cây số mà dòng sông đi qua, nó không chỉ mang tới dòng phù sa bồi đắp mà còn tạo lên những làng nghề đặc trưng, danh tiếng, được nâng tầm thành Di sản văn hoá phi vật thể Quốc gia như nghề làm muối ớt tôm, nghề làm bánh tráng phơi sương, nghề làm trống, nghề dệt chiếu lác, Nghệ thuật chế biến món chay cùng những Nghệ thuật đờn ca tài tử Nam bộ hay lễ hội Kỳ Yên ở các ngôi đình cổ… Những di sản ấy, bằng cách này hay cách khác đều ẩn chứa nhiều giá trị văn hoá và lấp lánh bóng dáng của dòng Vàm Cỏ Đông-Vàm Cỏ trong lịch sử hàng trăm năm qua.
Từng chỉ là món ăn dân dã ít người biết tới nhưng sau nhiều năm, nghề làm muối ớt, muối tôm của người dân ở vùng Trảng Bàng, Gò Dầu (Tây Ninh) đã được Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch công nhận là Di sản văn hoá phi vật thể Quốc gia vào năm 2023. Bắt đầu từ thời chống giặc ngoại xâm gian khổ, những hũ muối ớt, muối tôm nay được nhiều người biết tới. Tương tự muối ớt, muối tôm là nghề làm bánh tráng phơi sương ở Trảng Bàng, vùng đất nằm sát bên sông Vàm Cỏ Đông cũng có lịch sử hình thành lâu đời, được Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch công nhận là Di sản văn hoá phi vật thể Quốc gia vào năm 2016. Những chiếc bánh tráng mỏng manh, dân dã của các hộ dân ở vùng Trảng Bàng sau gần một thế kỷ nay đã là món ăn thân thuộc, thậm chí được nhiều hộ dân xuất khẩu, đi tới nhiều vùng đất xa xôi khác trên thế giới. Ngày nay, dọc quốc lộ 22, men theo sông Vàm Cỏ Đông là hàng trăm các tiệm bán bánh tráng phơi sương, bán muối ớt, muối tôm như một nét văn hoá độc đáo, níu chân bất cứ ai lần đầu ghé tới.
Xuôi theo dòng Vàm Cỏ Đông lững lờ chảy, người ta có thể bắt gặp thêm những làng nghề độc đáo khác được sản sinh, gắn bó với cư dân địa phương hàng trăm năm qua. Đó là nghề dệt chiếu lác (cói) ở nhiều ngôi làng nằm ven sông Vàm Cỏ ở vùng Cần Giuộc, Cần Đước. Từ năm 2014, nghề dệt chiếu của người dân ở đây đã được Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch công nhận là Di sản văn hoá phi vật thể Quốc gia nhưng trước đó rất lâu, những chiếc chiếu cói bền đẹp, nhiều màu sắc ở đây đã xuôi ngược dòng Vàm Cỏ, Vàm Cỏ Đông hay Vàm Cỏ Tây để đi tới khắp mọi nơi của vùng Nam bộ rộng lớn. Cũng tương tự là nghề làm trống Bình An (xã Tân Trụ), nơi mới được công nhận là Di sản văn hoá phi vật thể Quốc gia cách đây ít ngày. Một điểm thú vị là, nếu các làng nghề kể trên hầu hết nằm rải rác ở nhiều làng ấp thì nghề làm trống lại chỉ tập ở một khu vực nhỏ, thậm chí bí kíp chỉ truyền cho con cháu dòng họ Nguyễn (ở địa phương). Tuy vậy, những sản phẩm trống ở Bình An gần 150 năm qua không chỉ được gìn giữ, bảo tồn mà còn men theo dòng Vàm Cỏ, Vàm Cỏ Đông hay Vàm Cỏ Tây đi khắp mọi miền.

Bền bỉ những giá trị văn hoá
Điều đặc biệt, hầu hết những di sản văn hoá phi vật thể của Tây Ninh đều gắn bó mật thiết với dòng sông Vàm Cỏ Đông-Vàm Cỏ hay Vàm Cỏ Tây chứ không chỉ đơn thuần là nằm gần dòng sông. Bởi vùng đất này, ba dòng sông có tên chung Vàm Cỏ ấy là tuyến đường thuỷ lộ quan trọng. Đây cũng là tuyến đường thuỷ duy nhất có thể đi từ sông Tiền tới sông Đồng Nai, hai hệ thống sông ngòi lớn nhất phía Nam mà không cần ngược ra biển. Chính vì vai trò quan trọng ấy, hàng trăm năm trước, những bến sông, bến đò nhỏ bé dọc theo Vàm Cỏ Đông-Vàm Cỏ và Vàm Cỏ Tây đã là nơi dừng lại, giao lưu hàng hoá của nhiều thế hệ tiền nhân “mang gươm đi mở cõi”.
Dòng sông có vai trò như một tuyến đường thông thương giúp cư dân có thể mua nguyên liệu cũng như bán sản phẩm một cách dễ dàng, tới những vùng đất xa xôi khác. Đó là nguyên nhân quan trọng giúp cho những làng nghề tưởng như đơn giản lại có sức sống bền bỉ, trải qua nhiều thăng trầm của lịch sử tới vậy. Và có thể, khi nào dòng sông vẫn còn chảy êm đềm ngoài kia, những làng nghề di sản văn hoá ấy vẫn còn sức sống, còn là nét văn hoá của đất và người Tây Ninh. Như làng nghề muối ớt tôm ở vùng thượng nguồn Trảng Bàng, Gò Dầu… chẳng hạn. Nơi này không có biển để làm nguyên liệu muối, cũng không phải vùng nuôi tôm quá nhiều nhưng sản phẩm muối ớt, muối tôm vẫn có nguồn nguyên liệu dồi dào. Bởi nguyên liệu chính men theo sông Vàm Cỏ-Vàm Cỏ Đông từ phía biển đi ngược lên. Thậm chí ở vùng Gò Dầu hơn chục năm trước còn có các bến cảng nhỏ dọc ven sông luôn tấp nập các ghe thuyền chở muối tới để bán cho người dân phía bên kia biên giới. Hay như làng nghề dệt chiếu lác, nghề làm trống Bình An có sức sống bền bỉ một phần nhờ nằm ven sông, có thể giúp người dân bán hàng đi xa hơn nhờ văn hoá sử dụng ghe thuyền rất phổ biến của vùng Nam bộ trong quá khứ.

Ngoài những làng nghề, dọc theo dòng Vàm Cỏ Đông-Vàm Cỏ còn có những di sản mang đậm dấu ấn văn hoá cư dân miền sông nước. Nổi bật trong số đó là lễ hội Làm Chay (xã Tầm Vu), được công nhận là Di sản văn hoá phi vật thể Quốc gia từ năm 2014. Nằm gần nơi 3 dòng sông Vàm Cỏ Đông, Vàm Cỏ Tây và Vàm Cỏ gặp nhau, lễ hội Làm Chay có lẽ là một trong những lễ hội độc đáo, đặc sắc nhất của vùng Nam bộ rộng lớn. Theo người dân địa phương, lễ hội diễn ra vào dịp Rằm tháng Giêng hàng năm, bắt nguồn từ phong trào yêu nước chống Pháp vào nửa cuối thế kỷ XIX, đề cao tinh thần thượng võ của cư dân miền hạ lưu sông Vàm Cỏ xưa. Sau khi các nghĩa sĩ và sĩ phu yêu nước (như hai anh em Đỗ Tường Phong, Đỗ Tường Tự) bị thực dân hành quyết, nhân dân đã mượn danh nghĩa một buổi lễ cầu siêu để công khai cúng tế, tưởng nhớ những người con ưu tú đã ngã xuống vì độc lập dân tộc. Chính vì vậy, lễ hội mang ý nghĩa thiêng liêng là cầu quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa, đồng thời cầu siêu cho các vong linh để cầu an cho bá tánh, làng xóm. Không gian lễ hội trải rộng từ Đình Tân Xuân đến chùa Linh Phước, chùa Ông, miễu Điền, miễu Âm Nhơn…(thuộc khu vực thị trấn Tầm Vu cũ).
Lễ hội Làm Chay không chỉ là niềm tự hào của người dân địa phương mà còn là điểm đến hấp dẫn du khách thập phương. Việc duy trì và phát triển lễ hội dựa trên sự đóng góp tự nguyện của nhân dân đã khẳng định sức sống mãnh liệt của một di sản văn hóa truyền thống giữa dòng chảy hiện đại, góp phần giữ gìn bản sắc dân tộc cho các thế hệ mai sau.
Ngoài lễ hội Làm Chay, có 2 lễ hội khác là lễ Kỳ Yên ở đình Tân Chánh (xã Cần Đước) và lễ Kỳ Yên đình Gia Lộc (phường Trảng Bàng) cũng được công nhận là Di sản văn hoá phi vật thể Quốc gia lần lượt vào các năm 2025 và 2012. Cả hai lễ Kỳ Yên đều gắn bó với bó mật thiết với vùng đất nằm ven sông Vàm Cỏ Đông-Vàm Cỏ với lịch sử hàng trăm năm. Lễ Kỳ Yên cũng là nơi để người dân thực hiện nghi thức cúng tế truyền thống nhằm tri ân các bậc tiền nhân đi mở cõi cũng như tôn vinh các bậc hiền tài, danh nhân có công với quê hương đất nước, các anh hùng liệt sĩ đã hy sinh bảo vệ nền độc lập.
Có một điều rất đặc biệt, hầu hết các lễ hội văn hoá lâu đời, các làng nghề được công nhận là di sản ở Tây Ninh đều ở gần và có bóng dáng của dòng sông Vàm Cỏ-Vàm Cỏ Đông trong sự hình thành và phát triển. Đó không phải là sự trùng hợp ngẫu nhiên mà bởi trong lịch sử hàng trăm năm qua, dòng sông có vai trò lớn định hình làng mạc, quê hương. Vì thế, những điều đặc sắc nhất, những di sản đủ bền bỉ có sức sống hàng trăm năm chính là nơi gắn bó mật thiết nhất với dòng sông.
Gìn giữ cho muôn đời sau

Ngày nay, giá trị văn hoá của những di sản mà dòng sông mang đến là rất lớn với cư dân địa phương, bởi giá trị thu hút khách du lịch là rất lớn. Gần như tất cả các di sản được công nhận kể trên đều đã và đang là sản phẩm du lịch được du khách đón nhận. Điều này cũng khiến cho di sản có thêm sức sống mới trong xã hội công nghệ nhiều biến động hiện nay. Không chỉ mua về các sản phẩm, những làng nghề di sản hiện nay đều đang kết nối tua du lịch, giúp du khách tới tận nơi, chứng kiến quy trình sản xuất nhằm tạo kênh bán hàng và quảng bá thương hiệu tốt hơn. Nhưng giá trị của dòng Vàm Cỏ Đông-Vàm Cỏ không chỉ là những di sản phi vật thể mà còn nhiều di sản vật thể khác, với phần nhiều cũng được xếp hạng, có sự gắn bó mật thiết với đời sống cư dân địa phương.
Đó là tháp cổ Bình Thạnh (xã Phước Chỉ), một trong những di chỉ hiếm hoi của nền văn hoá cổ Óc Eo ở khu vực này. Công trình tháp cổ Bình Thạnh đã được công nhận là Di tích lịch sử cấp Quốc gia vào năm 1993, có giá trị văn hoá lịch sử và khảo cổ quan trọng ở vùng thượng nguồn ven sông Vàm Cỏ Đông. Công trình tồn tại khoảng một ngàn năm, là một trong những công trình kiến trúc lâu đời nhất ở Tây Ninh. Ngoài ra, nhiều di tích văn hoá khác cũng gắn bó với dòng sông này, như ngôi Nhà trăm cột (xã Long Hựu), một công trình kiến trúc dân gian mang đậm bản sắc vùng đất hạ lưu sông Vàm Cỏ cũng được công nhận là Di tích lịch sử cấp Quốc gia. Ngôi nhà là kiến trúc tư nhân mang đậm dấu ấn dân gian, tồn tại nhiều năm và có giá trị văn hoá nghiên cứu, bảo tồn. Hay Khu Di tích lịch sử Quốc gia Vàm Nhựt Tảo nằm ngay trên ngã ba sông Vàm Cỏ Đông và sông Nhựt Tảo gắn với người anh hùng Nguyễn Trung Trực đánh chìm tàu chiến của Pháp ở thế kỷ 19… Những công trình văn hoá kiến trúc này không chắc chắn sẽ còn có giá trị nhiều năm nữa, là bằng chứng sống động về một thời đi mở cõi của cha ông gắn với vùng đất này.
Di sản vật thể hay phi vật thể, dòng sông Vàm Cỏ Đông-Vàm Cỏ đã tạo ra, nuôi dưỡng và gìn giữ rất nhiều giá trị văn hoá của đất và người ở Tây Ninh. Ngược lại, các giá trị ấy, có khác nhau nhưng vẫn luôn mang trong mình hơi thở ngọt ngào của dòng sông êm đềm thơ mộng này.