Dự án Luật Đo lường sửa đổi: Giảm tiền kiểm, trao quyền cho doanh nghiệp
Sau gần 15 năm thực thi, Luật Đo lường năm 2011 đã bộc lộ một số hạn chế trước yêu cầu chuyển đổi số, phát triển kinh tế số và cải cách thủ tục hành chính. Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đo lường được xây dựng theo hướng hiện đại hóa quản lý, huy động nguồn lực xã hội và lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm.
Dự thảo gồm 3 điều, với 20 nhóm nội dung sửa đổi, bổ sung; trong đó đáng chú ý là bổ sung Chương Va về chuyển đổi số hoạt động đo lường, gồm các Điều 34a, 34b và 34c. Dự thảo hướng tới xây dựng nền tảng số, cơ sở dữ liệu đo lường tập trung, gắn mã quản lý duy nhất cho phương tiện đo, chuẩn đo lường và công nhận kết quả đo điện tử.
Xung quanh vấn đề này, phóng viên Báo Đại đoàn kết có cuộc trao đổi với ông Trần Quý Giàu, Trưởng ban Đo lường Ủy ban Tiêu chuẩn Đo lường chất lượng quốc gia, Bộ khoa học và Công nghệ (KHCN).
PV: Một thay đổi quan trọng của Dự thảo là chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm. Vì sao cần thay đổi phương thức quản lý này, thưa ông?
Ông Trần Quý Giàu: Luật Đo lường sửa đổi thực hiện chủ trương cắt giảm thủ tục hành chính, tạo thuận lợi cho đầu tư, kinh doanh, đồng thời giao trách nhiệm lớn hơn cho tổ chức, doanh nghiệp. Một trong những nội dung quan trọng là cắt giảm thủ tục đăng ký hoạt động cung cấp dịch vụ kiểm định, hiệu chuẩn phương tiện đo.
Tuy nhiên, cần phân biệt rõ các nhóm phương tiện đo. Phương tiện đo nhóm 1 chủ yếu phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh nội bộ, giúp doanh nghiệp nâng cao năng lực tự thân, kiểm soát chất lượng và khả năng cạnh tranh. Vì vậy, với nhóm này, dự thảo chuyển sang tăng trách nhiệm tự bảo đảm của doanh nghiệp, giảm những thủ tục tiền kiểm không cần thiết.
Trong khi đó, phương tiện đo nhóm 2 liên quan trực tiếp đến giao nhận thương mại, bảo vệ sức khỏe, an toàn và lợi ích cộng đồng vẫn phải được quản lý chặt chẽ.
Như vậy, Nhà nước thay đổi phương thức quản lý: giảm tiền kiểm, tăng hậu kiểm. Tổ chức cung cấp dịch vụ thuộc diện công bố năng lực phải hoạt động đúng phạm vi đã công bố và chịu trách nhiệm về kết quả.
Theo ông, năng lực hậu kiểm của các cơ quan quản lý nhà nước hiện nay đang ở mức độ nào? Việc giảm tiền kiểm có tạo ra khoảng trống quản lý hay không?
Dự kiến, luật sẽ cắt giảm tổng cộng 8 thủ tục hành chính. Việc cắt giảm thủ tục không đồng nghĩa với bỏ quản lý nhà nước. Cùng với đó là đẩy mạnh phân cấp, chuyển trách nhiệm kiểm tra nhà nước về đo lường xuống cơ sở.
Thời gian qua, trách nhiệm kiểm tra nhà nước về đo lường đã được tăng cường cho chính quyền cấp xã. Bộ KHCN cũng đẩy mạnh tuyên truyền, đào tạo đội ngũ cán bộ tại cơ sở. Đến nay, đã đào tạo hơn 1.700 cán bộ, công chức cấp xã thực hiện kiểm tra nhà nước về đo lường.
Bên cạnh nguồn nhân lực, nền tảng số và dữ liệu số sẽ là công cụ quan trọng để cơ quan quản lý thực hiện hậu kiểm dựa trên dữ liệu và đánh giá rủi ro. Đây cũng là hướng được xác định trong dự thảo nhằm giảm chi phí tuân thủ nhưng vẫn bảo đảm hiệu quả quản lý.
Chuyển đổi số sẽ hỗ trợ hậu kiểm và quản lý đo lường như thế nào, thưa ông?
Dự thảo bổ sung một chương mới về chuyển đổi số trong hoạt động đo lường, với các quy định về nền tảng số, dữ liệu số và mã quản lý duy nhất của phương tiện đo, chuẩn đo lường. Khi mỗi phương tiện đo được quản lý thông qua dữ liệu và mã định danh, cơ quan quản lý có thể theo dõi, kiểm soát thông tin thuận lợi hơn trong suốt vòng đời của phương tiện. Dự thảo cũng hướng tới công nhận và sử dụng kết quả đo bằng hình thức điện tử, đồng thời bảo đảm các yêu cầu về tính chính xác, toàn vẹn, xác thực, truy xuất, an toàn và bảo mật dữ liệu.
Đây không chỉ là việc đưa thủ tục lên môi trường điện tử mà còn tạo ra một phương thức quản lý mới dựa trên dữ liệu. Dữ liệu đo lường có thể được sử dụng để phân tích, cảnh báo, thanh tra, kiểm tra theo mức độ rủi ro.
Khi luật đi vào thực tế, theo ông, bài toán lớn nhất cần giải quyết là gì để một chính sách tiến bộ có thể thực sự đi vào cuộc sống, tránh tình trạng chính sách đi trước nhưng năng lực thực thi không theo kịp?
Trước hết là phải đẩy mạnh tuyên truyền chính sách đến doanh nghiệp, địa phương và người dân. Các đối tượng liên quan cần hiểu rõ pháp luật quy định những gì, trách nhiệm của mình đến đâu và phải thực hiện như thế nào.
Khi chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm, trách nhiệm của doanh nghiệp được nâng lên. Vì vậy, doanh nghiệp phải hiểu rõ quyền và nghĩa vụ của mình, hoạt động đúng năng lực đã công bố và chịu trách nhiệm trước pháp luật.
Người dân cũng có vai trò rất quan trọng trong giám sát. Chính người dân có thể phản ánh những vấn đề phát sinh, qua đó hỗ trợ cơ quan quản lý phát hiện và xử lý vi phạm.
Thứ hai là tăng cường đào tạo nguồn nhân lực, đặc biệt là đội ngũ thực hiện kiểm tra nhà nước về đo lường tại cơ sở. Khi phân cấp mạnh hơn, năng lực của cán bộ cơ sở sẽ là một yếu tố quan trọng bảo đảm hậu kiểm thực chất.
Bên cạnh đó, truyền thông chính sách cần được thực hiện ngay từ quá trình xây dựng, lấy ý kiến, hoàn thiện cho đến khi chính sách được ban hành và triển khai. Khi người dân, doanh nghiệp được tiếp cận thông tin sớm, họ có thời gian chuẩn bị và chủ động thực hiện, hạn chế tình trạng bỡ ngỡ hoặc chậm trễ khi quy định mới có hiệu lực.
Trân trọng cảm ơn ông!