Đưa hạ tầng số Việt Nam ngang tầm các nước tiên tiến
Trong khi kinh tế số phát triển nhanh, khoảng 30% mỗi năm, hạ tầng số hiện mới chỉ tăng trưởng 1–2% mỗi năm, tiềm ẩn nguy cơ mất cân đối và thiếu bền vững. Trước thực trạng đó, Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Nguyễn Mạnh Hùng khẳng định: đã đến lúc ngành viễn thông phải chuyển vai, từ hạ tầng kết nối sang hạ tầng năng lực số, đóng vai trò dẫn dắt cho toàn bộ nền kinh tế.

Chuyển nghề để dẫn dắt phát triển
Trong bối cảnh kinh tế số Việt Nam tăng trưởng, yêu cầu đặt ra đối với hạ tầng số – nền móng của tăng trưởng – ngày càng trở nên cấp thiết. Phát biểu tại Hội nghị triển khai chương trình công tác năm 2026 của Khối Bưu chính – Viễn thông, Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng chỉ rõ một nghịch lý: viễn thông là hạ tầng của kỷ nguyên số, nhưng tốc độ tăng trưởng của chính ngành này lại chậm hơn nền kinh tế số từ 5–6 lần. Nguyên nhân cốt lõi, theo Bộ trưởng, nằm ở tư duy phát triển vẫn chủ yếu xoay quanh thuê bao, lưu lượng và kết nối, trong khi thế giới đã chuyển mạnh sang cung cấp năng lực số.
“Doanh nghiệp viễn thông bây giờ không còn là nghề đào đất, lắp ăng-ten nữa. Nghề chính đã chuyển sang nghề nghiên cứu phát triển. Vì vậy, quản lý nhà nước cũng phải chuyển sang nghề nghiên cứu, dẫn dắt doanh nghiệp đi”, Bộ trưởng nhấn mạnh.
Theo đó, Cục Viễn thông và Cục Tần số vô tuyến điện được yêu cầu thành lập các phòng nghiên cứu phát triển thị trường ngay trong năm 2026, nhằm đóng vai trò “chỉ đường”, thay vì chỉ làm công tác cấp phép, quản lý hành chính như trước.
Một trong những giải pháp then chốt được Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng đề cập là Nhà nước chủ động đầu tư các phòng thí nghiệm (Lab) quy mô lớn, với mức đầu tư có thể lên tới 20 triệu USD. Đây là điều mà doanh nghiệp viễn thông khó thực hiện do áp lực hiệu quả tài chính ngắn hạn.
Mục tiêu của các phòng Lab không phải để làm thay doanh nghiệp, mà để định hướng cho tổng vốn đầu tư hạ tầng mạng lưới, tần số của cả quốc gia đi đúng hướng, tránh lãng phí và đầu tư dàn trải. Cùng với đó, cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) sẽ được áp dụng để tháo gỡ rào cản pháp lý cho các mô hình, dịch vụ mới.
Theo các chuyên gia, sự kết hợp giữa Lab và sandbox sẽ giúp cơ quan quản lý chủ động dẫn dắt thị trường, thay vì chạy theo các thay đổi công nghệ mang tính bị động.
Một điểm nhấn quan trọng khác là yêu cầu thay đổi tư duy đấu giá và quản trị tài nguyên tần số. Từ năm 2026, đấu giá tần số không chỉ nhằm tối đa hóa ngân sách thu về, mà phải tính đến lợi ích tổng thể cho nền kinh tế.
Theo Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng, tần số chỉ thực sự có giá trị khi được đưa vào sử dụng, phủ sóng nhanh, rộng và phục vụ các ứng dụng số. Cơ chế mới sẽ cho phép giảm giá đấu nếu doanh nghiệp cam kết phủ sóng sớm và rộng, qua đó đảm bảo doanh nghiệp còn nguồn lực để đầu tư hạ tầng.
Mục tiêu cụ thể để tiệm cận các nước tiên tiến
Giai đoạn 2026–2030 được xác định là giai đoạn kiến tạo hạ tầng số hiện đại, băng thông siêu rộng, dung lượng siêu lớn và phổ cập. Riêng năm 2026, Cục Viễn thông đặt mục tiêu đưa hạ tầng số Việt Nam tiệm cận các nước tiên tiến, với các chỉ tiêu cụ thể: tốc độ di động đạt 170 Mbps, tốc độ cố định đạt 300 Mbps; 99% dân số được phủ sóng 5G; 40% người dân có khả năng truy cập băng rộng 1 Gbps.
Các chuyên gia đánh giá, nếu hoàn thành các chỉ tiêu này, hạ tầng số có thể đóng góp thêm 1–2% tăng trưởng GDP, thông qua việc nâng cao năng suất và mở rộng không gian phát triển của kinh tế số.
Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng cũng giao nhiệm vụ cụ thể cho từng đơn vị trong Khối Bưu chính – Viễn thông. Trong đó, Cục Viễn thông phải chuyển từ quản lý mạng viễn thông sang quản lý hạ tầng số quốc gia, bao gồm viễn thông, Internet, trung tâm dữ liệu, điện toán đám mây và AI.
Cục Tần số vô tuyến điện được yêu cầu chuyển từ cấp phép tần số sang quản trị tài nguyên tần số, linh hoạt theo công nghệ mới và kiến tạo thị trường tần số hiệu quả. Trung tâm Internet Việt Nam (VNNIC) phải đảm nhiệm vai trò “kiến trúc sư hạ tầng Internet quốc gia”, bảo đảm Internet Việt Nam vận hành độc lập, bền vững ngay cả khi xảy ra sự cố kết nối quốc tế.
Với Quỹ Dịch vụ Viễn thông công ích, mục tiêu cũng được mở rộng từ phổ cập dịch vụ viễn thông sang phổ cập dịch vụ số cơ bản, bảo đảm người dân vùng sâu, vùng xa có thể học tập, khám chữa bệnh từ xa với tốc độ tối thiểu 100 Mbps.
Theo Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng, viễn thông Việt Nam đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử phổ cập kết nối và đang đứng trước một cuộc đổi mới lần thứ hai. Trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao trong 20 năm tới, hạ tầng số không chỉ là điều kiện cần, mà là động lực tăng trưởng mới.
“Viễn thông không thể chỉ nâng từ 3G lên 4G, 5G để tăng thêm ít giá trị. Viễn thông phải trở thành hạ tầng năng lực số của nền kinh tế”, Bộ trưởng nhấn mạnh.
Các chuyên gia cho rằng, nếu thực hiện đồng bộ các giải pháp về thể chế, đầu tư nghiên cứu, quản trị tài nguyên và đổi mới tư duy phát triển, Việt Nam hoàn toàn có cơ sở để đưa hạ tầng số ngang tầm các nước tiên tiến, tạo nền móng vững chắc cho kinh tế số, xã hội số và quốc gia số trong thập kỷ tới.