Báo Đại Đoàn Kết Góc nhìn Đại Đoàn Kết

Dũng cảm đổi mới

Báo Đại Đoàn Kết Tăng kích thước chữ

Dũng cảm đổi mới

Báo Đại Đoàn Kết trên Google News

Ngày 3/6, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ký ban hành Nghị quyết số 12-NQ/TW về tiếp tục cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước.

Đây là chủ trương lớn của Đảng, Chính phủ nhằm tạo sức mạnh thật sự cho khối kinh tế chủ lực này, nhận được sự đồng thuận rộng rãi, bởi trước đó, bên cạnh mặt tích cực thì khối doanh nghiệp nhà nước cũng bộc lộ một số bất cập, cần được chấn chỉnh, tái cơ cấu.

Đẩy nhanh tiến độ cổ phần hóa, tái cơ cấu để tăng sức mạnh cho doanh nghiệp nhà nước.

Thực sự thì tính đến nay đã qua 15 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 khoá IX về “Tiếp tục sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước”.

Kể từ đó, việc cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước (DNNN) được triển khai, số lượng DNNN đã được thu gọn hơn, tập trung vào những ngành, lĩnh vực then chốt.

Đặc biệt, cơ chế hoạt động của DNNN đã có bước đổi mới theo hướng tự chủ kinh doanh, cạnh tranh bình đẳng, công khai, minh bạch hơn.

Tuy nhiên, như Nghị quyết số 12-NQ/TW mới ban hành thì “vai trò của DNNN là lực lượng nòng cốt của kinh tế nhà nước, dẫn dắt, tạo động lực phát triển đối với nền kinh tế còn hạn chế”.

Nghị quyết nêu rõ, nhìn chung hiệu quả sản xuất kinh doanh và đóng góp của nhiều DNNN còn thấp, chưa tương xứng với nguồn lực Nhà nước đầu tư; nợ nần, thua lỗ, thất thoát lớn.

Cơ chế quản trị DNNN chậm được đổi mới, kém hiệu quả, chưa phù hợp với các thông lệ, chuẩn mực quốc tế; tính công khai, minh bạch còn hạn chế.

Đặc biệt, việc cơ cấu lại DNNN và thoái vốn nhà nước triển khai chậm, “quá trình cổ phần hoá còn nhiều yếu kém, tiêu cực và có một số khó khăn, vướng mắc về thể chế chậm được giải quyết, nhất là thể chế định giá đất đai, tài sản”.

Trách nhiệm của người quản lý DNNN chưa rõ ràng; công tác cán bộ, chính sách tiền lương còn bất cập, chưa phù hợp với cơ chế thị trường.

Cơ chế quản lý, giám sát và việc thực hiện quyền, trách nhiệm của cơ quan và người đại diện chủ sở hữu nhà nước chưa thật rõ ràng và phù hợp.

Về nguyên nhân dẫn đến những hạn chế, yếu kém đó, theo Nghị quyết, bao gồm vấn đề nhận thức, tổ chức thực hiện còn nhiều yếu kém, bất cập; tạo kẽ hở để hình thành “nhóm lợi ích”, thao túng hoạt động của DNNN, tham nhũng, lãng phí. Nghị quyết cũng đặc biệt lưu ý đến việc thiếu cơ chế kiểm soát quyền lực và công tác bổ nhiệm cán bộ.

Nghị quyết số 12-NQ/TW2 cũng chỉ rõ, tiếp tục đẩy mạnh cơ cấu lại DNNN theo hướng kiên quyết cổ phần hoá (CPH), bán vốn tại những DN mà Nhà nước không cần nắm hoặc không cần giữ cổ phần, vốn góp chi phối, kể cả những DN đang kinh doanh có hiệu quả; đồng thời xử lý triệt để, bao gồm cả việc cho phá sản các DNNN yếu kém.

Trong quá trình thực hiện, cùng với việc tiếp tục đổi mới phương thức và nâng cao năng lực lãnh đạo của các tổ chức đảng sẽ phát huy vai trò của nhân dân, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội trong giám sát đối với việc cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả DNNN.

Như vậy, cho đến nay, việc cơ cấu lại DNNN đã được đặt ra một cách cấp bách. Đã một thời gian dài, khối kinh tế này được cho là đã được hưởng quá nhiều đặc quyền, đặc lợi từ “bầu sữa” Nhà nước.

Nguồn vốn dành cho DN này hầu như “vô tận”, kể cả thua lỗ thì cũng lại lấy từ ngân sách bù vào. Điều đó dẫn đến sự cạnh tranh không lành mạnh giữa khối DNNN với khối DN tư nhân; được ví như có sự phân biệt “con đẻ”- DNNN - với “con nuôi”- DN tư nhân.

Cho nên, thực tế đã diễn ra rằng, DN tư nhân dù hết sức nỗ lực nhưng rất khó có cơ hội bứt phá, nhất là với DN nhỏ và vừa. Từ việc tiếp cận nguồn vốn vay cho đến những thủ tục “hành là chính”, khiến DN tư nhân phải lên tiếng trong không biết bao nhiêu cuộc gặp với chính quyền, không biết bao nhiêu lần trong những hội thảo được mở ra nhằm tháo gỡ khó khăn cho khối DN này. Đáng chú ý, lại xuất hiện một thực tế là DN nhỏ và vừa “không muốn lớn”, do gặp quá nhiều rào cản.

Trong khi đó, DNNN dù được tạo nhiều thuận lợi, từng được coi là “quả đấm thép” của nền kinh tế thì vẫn có nhiều DN thua lỗ, tiêu cực, làm mất vốn nhà nước và cũng không đủ lực can thiệp thị trường khi cần thiết.

Cùng với những tiêu cực phát sinh thì việc đầu tư ngoài ngành, đầu tư tràn lan không thuộc lĩnh vực của mình đã dẫn đến tình trạng phân tán sức mạnh cả về nguồn vốn lẫn nhân sự.

Đầu tư ngoài ngành của các DNNN với nguồn vốn khổng lồ đã dẫn đến sự chồng chéo và trong thực tế là không hiệu quả.

Trước chủ trương thoái vốn đầu tư ngoài ngành, nhiều DNNN vì lợi ích cục bộ đã cố tình nấn ná, cho đến nay vẫn triển khai rất chậm chạp. Việc chậm CPH cũng được viện ra nhiều lý do để trì hoãn, cũng xuất phát từ lợi ích cục bộ mà ra.

Cho đến nay, cơ quan chức năng đã chỉ ra nhiều dự án “khủng” với số vốn cả ngàn tỷ đồng không hiệu quả, “trùm mền” cho thấy hơn lúc nào hết càng cần phải kiên quyết sắp xếp lại, cơ cấu lại khối DN này, nhất là ở những DN làm ăn thua lỗ.

Dòng tiền của Nhà nước đổ vào không thể để bất cứ ai được quyền phung phí, nhất là khi đất nước còn nghèo, nợ công tăng cao, năng suất lao động thấp, tính cạnh tranh kém.

Bất cứ quốc gia nào thì DN do Nhà nước bỏ vốn, quản lý cũng được coi là then chốt. Tuy nhiên, quan trọng là thuộc lĩnh vực nào, lĩnh vực đó có khả năng chi phối, tác động đến nhiều mặt kinh tế-xã hội hay không.

Còn thì, không nhất thiết phải có quá nhiều DNNN. Điều đó sẽ tạo ra một nền kinh tế năng động, một xã hội năng động, có tính cạnh tranh cao.

Khi Đảng, Nhà nước có chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, thì DNNN cũng như các khối DN khác phải hoạt động trong một khung khổ pháp luật chung, không thể tồn tại chuyện “con đẻ”, “con nuôi”.

Vì vậy, tái cơ cáu DNNN, đặt khối DN này vào môi trường cạnh tranh, hoạt động theo luật như khối DN tư nhân, DN FDI là điều cần thiết.

Từ đó, khối DNNN phải thực sự tự lột xác, không thể trông chờ vào “bầu sữa” vô tận của Nhà nước. Có nghĩa là họ phải chấp nhận cuộc cạnh tranh thực sự.

Khi thương trường được ví như chiến trường không khói súng, thì sự mạnh - yếu sẽ tự nó bộc lộ. Nếu không dũng cảm đổi mới thì sẽ thất bại.

Cuối cùng, như Nghị quyết số 12-NQ/TW đã chỉ rõ, để DNNN hoạt động hiệu quả, làm tròn trách nhiệm của mình thì rất cần phát huy vai trò của nhân dân, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội trong giám sát.

Những tồn tại, tiêu cực xảy ra thời gian qua phần nào cũng do thiếu sự giám sát. Giám sát không phải là tạo ra rào cản, mà để ngăn ngừa tiêu cực có thể phát sinh; giám sát để đồng tiền của Nhà nước bỏ ra không bị chiếm đoạt, mà phải đem lại hiệu quả cho xã hội.

Đặc biệt, trong quá trình thoái vốn, CPH DNNN thì việc giám sát lại càng phải chặt chẽ, thường xuyên. “Kiên quyết đấu tranh và thiết lập các hệ thống quản trị, kiểm soát nội bộ có hiệu quả trong việc phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật, xung đột lợi ích; tình trạng cán bộ lãnh đạo, quản lý của DNNN móc ngoặc với cán bộ, công chức nhà nước và khu vực kinh tế tư nhân để hình thành “nhóm lợi ích”, “sân sau”, lạm dụng chức vụ, quyền hạn thao túng hoạt động của DNNN, trục lợi cá nhân, tham nhũng, lãng phí, gây tổn hại cho Nhà nước và DN”- Nghị quyết nêu rõ.

Nam Việt