Đừng nghiệp dư hóa nghệ thuật
Xung quanh việc bảo tồn, gìn giữ và phát huy vốn chèo cổ, chúng tôi đã có cuộc trao đổi cởi mở với bà Nguyễn Thị Bích Ngoan (NSND Thanh Ngoan) - Giám đốc Nhà hát Chèo Việt Nam. Bà cho rằng, hiện đang có xu hướng nghiệp dư hóa nghệ thuật sân khấu nói chung và nghệ thuật chèo nói riêng. Nếu không kịp thời thay đổi, rất có thể vốn chèo cũng như nhiều nghệ thuật truyền thống khác sẽ khó mà bảo tồn.

PV:Thưa NSND Thanh Ngoan, bà có thể cho biết đôi nét khái quát về tình hình hoạt động của Nhà hát Chèo Việt Nam trong những năm qua?
NSND Thanh Ngoan: Nhìn chung, Nhà hát Chèo Việt Nam trong những năm qua hoạt động tương đối ổn định. Song, trước chủ trương tinh gọn bộ máy, Nhà hát đang gặp phải một số khó khăn, do ảnh hưởng tới nhân lực từ đó ảnh hưởng tới nguồn thu, dẫn tới đời sống các nghệ sĩ gặp khó khăn. Nếu như trước đây Nhà hát có 150 suất biên chế thì hiện nay chỉ còn khoảng 120 người, bao gồm cả diễn viên và các bộ phận khác.
Tất nhiên, giảm số người sẽ giảm cả chi phí về lương, thưởng và các khoản khác như tiền tập, tiền cát xê diễn... Song, vấn đề là những người bị tinh giản lại là những người có uy tín, thành danh, có kinh nghiệm nên cũng ảnh hưởng nhất định tới việc dựng vở của nhà hát. Lực lượng nghệ sĩ kế cận thì khó giữ chân bởi đồng lương quá thấp, tiền tập và cát xê mỗi đêm diễn cộng vào vẫn không đủ trang trải cuộc sống hàng ngày cho anh chị em. Vì thế, một số người có tài năng dù rất yêu nghề vẫn phải dứt áo ra đi rất đáng tiếc.
Bên cạnh đó, chúng tôi được giao nhiệm vụ chủ yếu là bảo tồn vốn chèo cổ, tuy cũng có phát triển thích ứng với bối cảnh xã hội hiện đại, nhưng không nhiều nên thu nhập cho anh chị em nghệ sĩ không cao. Thu nhập đã thấp, lại không có suất biên chế nên các nghệ sĩ không yên tâm cống hiến cho nghệ thuật, họ không ngần ngại ra đi nếu có nơi nào đó chào đón, hứa hẹn tương lai sáng lạn hơn. Chưa kể đến việc nhiều nghệ sĩ chỉ biết mỗi hát chèo, rất khó tinh giản để lấy đội ngũ nghệ sĩ trẻ kế cận.
Những năm trước đã khá là khó khăn, sang năm 2020 do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19 nên chúng tôi có thể nói là “xây xẩm mặt mày”. Nếu như các năm Nhà hát đảm bảo khoảng 50 đêm diễn thì năm 2020 chỉ sáng đèn được 3 đêm, khiến khó khăn càng thêm chồng chất. Khán giả đến nhà hát không đông dù chúng tôi đã nghĩ đủ mọi cách để thu hút họ. Có thể nói, năm qua đời sống của anh chị em nghệ sĩ ở đây đang gặp rất nhiều khó khăn.
Nói như vậy thì đời sống các nghệ sĩ Nhà hát Chèo Việt Nam làm thế nào để đảm bảo, khi mà cả năm chỉ sáng đèn có 3 đêm, thưa bà?
- Nhắc tới điều này thực sự tôi cảm thấy rất buồn. Không phải anh chị em nghệ sĩ Nhà hát Chèo Việt Nam kém về chuyên môn, hay không dựng được vở diễn đạt chất lượng nghệ thuật cao. Khi chúng tôi diễn không bán vé mà “thả cửa” thì khán giả tới đông vô cùng, nhưng khi bán vé thì lại vắng hoe. Tôi cố tự tìm câu trả lời là do giá vé quá cao, hoặc vở diễn chưa hay nên chưa khiến khán giả “móc túi” bỏ tiền ra mua vé, nhưng quả thật là suốt một thời gian dài vẫn không thể có câu trả lời. Nhưng tôi nghĩ, nếu chất lượng vở diễn tồi thì ngay cả khi miễn phí chắc người ta cũng chẳng buồn xem.

Chính vì đời sống anh chị em nghệ sĩ vô cùng khó khăn do vắng khán giả, đêm diễn ít, chúng tôi luôn trăn trở tìm hướng đi thích hợp trong bối cảnh hiện nay. Ngoài việc cố gắng tìm thêm các hợp đồng với các đơn vị, địa phương, chúng tôi cũng khuyến khích, tạo điều kiện cho anh chị em nghệ sĩ tự kiếm thêm thu nhập bằng việc đi hát văn, nhận các sô diễn dịch vụ... Cùng với đó, chúng tôi cũng cố gắng cân đối kinh phí được phân bổ để tăng thêm các buổi tập cho anh chị em nghệ sĩ để tăng thêm thu nhập, bù đắp phần nào vào chỗ thiếu hụt do cát xê các đêm diễn ít hơn trước.
Song, nói gì thì nói, trong bối cảnh hiện nay, nghề chèo của chúng tôi vẫn còn dễ thở hơn đôi chút so với những loại hình sân khấu truyền thống khác như tuồng hay cải lương. Hầu hết các nghệ sĩ chèo đều có thể hát văn cho các giá đồng, từ đó có thu nhập tăng thêm bù đắp vào cuộc sống sinh hoạt hàng ngày. Còn nhiều nghệ sĩ khác nếu không được bao cấp, không thể diễn thì chỉ còn nước rẽ ngang, bỏ nghề thôi.
Nhiều ý kiến cho rằng sân khấu nói chung, các loại hình nghệ thuật kịch hát dân tộc nói riêng vắng khán giả là do chất lượng vở diễn kém, nhạt nhẽo, sáo mòn, thiếu sáng tạo nên không thu hút được khán giả, bà nghĩ sao về điều này?
- Luồng ý kiến này cũng đúng một phần. Hiện, rất ít tác giả có được những tác phẩm kịch bản hay, nhất là đối với các loại hình nghệ thuật truyền thống như tuồng, chèo, cải lương. Những khán giả đã khẳng định tên tuổi của làng chèo Việt Nam như TS Trần Đình Ngôn có thể nói giờ vô cùng hiếm. Nói như vậy không có nghĩa các tác giả hiện nay, nhất là các tác giả trẻ đều bất tài. Nhưng vì họ không chuyên về nghệ thuật truyền thống nên kịch bản của họ rất khó dàn dựng với những người non tay.
Thời gian qua, hầu như tôi nhận được những kịch bản văn học có thể chuyển thể thành bất cứ tác phẩm sân khấu nào, là chèo hay cải lương, hoặc tuồng, kịch nói đều được cả. Với những loại kịch bản sân khấu kiểu này thì với những người đạo diễn ít kinh nghiệm, không thuộc nhiều làn điệu chèo làm sao có thể dàn dựng được? Nói tóm lại là kịch bản n trong một thì rất khó hay và đặc sắc.
Trước đây, thỉnh thoảng chúng tôi nhận được những kịch bản chèo đích thực của TS Trần Đình Ngôn và một số tác giả nổi tiếng khác thì rất nhàn mà vẫn ra được vở diễn hay. Giờ thì lứa nghệ sĩ như TS Ngôn hay những cây đại thụ làng chèo khác không còn sung sức để có thể viết khỏe như xưa nữa, trong khi thế hệ kế cận lại không nhiều anh tài. Vì thế, rất khó để có được một kịch bản chèo hay. Không có kịch bản hay thì cũng đồng nghĩa với việc khó có vở diễn đặc sắc.
Và việc khán giả hiện có nhiều hình thức giải trí hơn thời xưa cũng là một yếu tố khiến nhiều người không còn tha thiết với nghệ thuật truyền thống như chèo. Thay vì phải đội mưa gió rét mướt tới rạp hát, họ ở nhà đắp chăn xem phim, truyền hình và nhiều hình thức giải trí khác trên mạng internet. Đó là còn chưa kể việc xem miễn phí hay phải mua vé với không ít người cũng là cả vấn đề cần cân nhắc.
Vậy làm thế nào để vừa bảo tồn, gìn giữ mà vẫn phát triển được nghệ thuật chèo trong bối cảnh xã hội ngày nay, thưa bà?
- Đầu tiên tôi cho rằng, muốn bảo tồn được nghệ thuật chèo nói riêng và các loại hình sân khấu truyền thống nói chung thì không nên nghiệp dư hóa nghệ thuật, cả trong tư duy và thực tế. Không phải riêng tôi, mà ngay cả “cây đa cây đề” của làng sân khấu như PGS.TS Trần Trí Trắc cũng từng nói, việc sáp nhập tất cả các đoàn nghệ thuật thành một nơi gọi là trung tâm văn hóa tỉnh tại các địa phương là đang làm mất đi bản sắc riêng có của các loại hình nghệ thuật.
Thay vì chuyên tâm tập luyện tuồng, chèo, cải lương, giờ các nghệ sĩ phải biết nhiều thứ. Mà biết tất có nghĩa là chẳng cái gì tinh cả, bởi cái gì chuyên chẳng hơn là thập cẩm. Nhiều đoàn cải lương, tuồng hay chèo nổi tiếng một thời giờ bị gom chung vào cùng một rọ, làm sao để anh chị em nghệ sĩ có thể bảo tồn, gìn giữ và phát huy bản sắc đây? Nghệ thuật là chuyên biệt và sáng tạo, vì thế việc “nhốt chung” các loại hình nghệ thuật chính là bước lùi, làm nghiệp dư hóa nghệ thuật, dẫn đến mai một bản sắc văn hóa của mỗi loại hình nghệ thuật riêng.
Đó là còn chưa kể một số nhà quản lý ở các địa phương có cách nhìn thiếu toàn diện, chưa đúng đắn, thậm chí méo mó về các loại hình nghệ thuật, nhất là nghệ thuật truyền thống, nên có sự can thiệp thô bạo khiến tác phẩm mất đi giá trị nghệ thuật đích thực. Đó là lý do không ít tác phẩm sau khi được “cắt gọt” trở nên nhạt nhẽo, không đạt chất lượng nghệ thuật, thiếu hấp dẫn đối với khán giả.
Nghệ thuật là sáng tạo, vì thế hãy để các nghệ sĩ được tự do sáng tác, đừng cố công “mài dũa” nếu như không có điều gì được gọi là “phạm húy”. Nhà quản lý nhiều khi chỉ là được giao trọng trách để giám sát hoạt động nghệ thuật, không để nó “đi trật đường ray”, chứ đôi khi về nghề nghiệp cụ thể chưa chắc đã hơn các nghệ sĩ. Vì thế đừng cố công "đẽo cày giữa đường", làm nghiệp dư hóa nghệ thuật. Như vậy thì ngay cả bảo tồn, gìn giữ vốn cổ truyền thống cũng khó, đừng nói đến phát huy bản sắc dân tộc.
Trân trọng cảm ơn bà!