“Đuổi nghèo” ở vùng "tám núi"
Nói đến Hà Giang là nói đến khó khăn, mà trong ấy không thể không nói đến vùng “tám núi” (Bát Đại Sơn, Quản Bạ, Hà Giang). Để miền đất phên dậu này có điều kiện ổn định, “đứng mũi chịu sào”, các chương trình đầu tư đã được đưa về đây. Xóa nghèo như một thách đố đang trở thành hiện thực với đất này.
Nhà tạm nhà dột trên vùng quê đá Bát Đại Sơn đã được kiên cố
Hoài niệm đất khó
Trong hơn 10 xã hiện có của Quản Bạ, với những cái tên đọc lên đã thấy hết sức âm u, gợi cảnh đói nghèo như Cao Mã Pờ, Tả Ván, Cán Tỷ, Tùng Vài… thì có lẽ Bát Đại Sơn là xã khó nhất. Từ thị trấn Tam Sơn, muốn lên với Bát Đại Sơn, người ta lại phải men sông, ngửa mặt, đặt từng bước chân nặng nề theo từng vấu đá mà thốc dốc, thốc núi ngược lên.
Vì xa xôi, vì “nằm ngoài cuộc” như vậy, nên trước đây Bát Đại Sơn chỉ là miền đất, nơi tìm đến của hai dân tộc duy nhất ấy là người Mông và người Dao. Người ta bảo, trên Cao nguyên đá này, chỉ có hai dân tộc ấy có tài đi lại, có tài leo núi mới tìm được đến với Bát Đại Sơn thôi. Còn các dân tộc khác, không có những cái tài leo núi, trèo đá như người Mông, người Dao thì đành chịu. Dẫu đất đai cạn kiệt, dẫu chỗ ở có chật chội thì chẳng ai có ý nghĩ hay có can đảm để tìm lên với Bát Đại Sơn.
Nhớ, cách đây 4 năm, trong đợt “rủ rê” của cánh giáo viên cắm bản và sự mạo hiểm muốn khám phá về vùng đất này, tôi đã cùng họ đạp dốc mà lên Bát Đại Sơn. Nửa ngày leo dốc, leo núi đến nơi, đâu tôi cũng thấy đói nghèo. Thời này, trong cuốn sổ tay đã ẩm lạnh mồ hôi và mưa gió bụi đường còn giữ lại của tôi thì Bát Đại Sơn có tới trên 80% hộ nghèo. Đâu cũng thấy đứt bữa, thiếu ăn và sự cầm cự đến trường của cánh học sinh người Mông, người Dao.
Những đứa trẻ trên quê hương Bát Đại Sơn
Thời này, người tôi được tiếp xúc nhiều nhất là Chủ tịch xã Tẩn Seo Thúng. Anh bảo, để Bát Đại Sơn đi lên, cần rất nhiều sự đầu tư mà đầu tư lớn nhất và cần nhất cho dân lúc này là kiến thức khoa học về nông lâm và luân canh mùa vụ. Có như vậy, “đá” mới được quay vòng, sản lượng lương thực tăng lên, người dân mới bớt đói ăn. Và khi cái bụng đã no thì mới bắt đầu nghĩ tiếp và làm tiếp những công việc dài hơi hơn.
Ước ao như vậy, nhưng lại bất lực ngay ấy là con đường và địa hình mang tính chất hết sức đặc thù của Bát Đại Sơn. Đường sá đi lại khó khăn, địa hình bị cắt xẻ, đã chặn đứng hết những tâm huyết, sự xâm nhập và chuyển giao khoa học kỹ thuật vào đây. Người dân lại vẫn quắt quay trong một “mớ bòng bong đói nghèo” không giải thoát và khó lần giở.
Đất cằn nay đã… “nở hoa”
Đấy là hình ảnh của Bát Đại Sơn những năm về trước. Nay lên Bát Đại Sơn, không còn là nỗi ám ảnh của lữ khách với những cung đường dữ dội, ngút ngàn đá thuở nào. Với trên 36 tỷ đồng được đầu tư, một con đường mới toanh trải nhựa đã đưa Bát Đại Sơn về gần thị trấn hơn và thông suốt với các xã biên giới khác như Tùng Vài, Nghĩa Thuận. Với con đường được đầu tư là sự thông thương, giao lưu văn hóa, cùng với đó là khoa học, kỹ thuật cũng vượt núi, vượt dốc mà đi lên.
Đón tôi ở trước chiếc trụ sở ủy ban mới được xây dựng khá khang trang là Lò Văn Sử. Như đoán được bỡ ngỡ của tôi trước sự thay đổi nhanh chóng của Bát Đại Sơn, anh Sử hồ hởi: Tất cả đều do sự quan tâm và đầu tư của Chính phủ cả đấy anh ạ. Không nhờ Chính phủ, không nhờ nguồn vốn 135, vốn của Chương trình 30a thì không biết bao giờ Bát Đại Sơn mới có cơ hội để đi lên…
Có sự đầu tư, có sự quản lý và giám sát sát sao, Bát Đại Sơn đã có sự thay đổi nhanh chóng. Hiện tỷ lệ hộ đói nghèo ở Bát Đại Sơn đã giảm xuống còn dưới 50%. Kể cũng nhanh, sau 4 năm với sự đầu tư, tỷ lệ đói nghèo từ trên 80% giảm xuống như vậy là những cái cần ghi nhận và đáng khích lệ ở đất này.
Với các khoản vốn đầu tư từ các chương trình như 134, 135 và đặc biệt là Chương trình 30a của Chính phủ, giờ tìm lên Bát Đại Sơn người ta thấy đất này như một công trường lớn. Với số vốn đầu tư tổng cộng của các nguồn trên 100 tỷ đã có trên 20 công trình trọng điểm được xây dựng, đáng kể nhất là các công trình phục vụ sinh kế lâu dài như ủy ban, trường học và trạm y tế.
Ngoài đường, các công trình được đầu tư, hơn 100 hộ dân được cấp kinh phí xóa nhà tạm, nhà dột. Việc xây hồ treo để đảm bảo nguồn nước sinh hoạt cho dân, các công trình nước tự chẩy để phục vụ tưới tiêu cũng luôn được đưa lên hàng đầu. Tuyến công trình nước tự chảy Nà Cạn - Na Quang được đầu tư đang phát huy tác dụng “dẫn thủy, nhập điền” cho Bát Đại Sơn. Chính nhờ hệ thống nước tự chảy này mà đồng bào đã chủ động được nước tưới cho cây trồng, không phải ngửa mặt chờ mưa và đảm bảo những mùa thu, đảm bảo an toàn lương thực tại chỗ, mang tính bền vững cho bà con.
Từ chỗ dân no đói phập phù, nay mỗi đầu người dân trên đây đã có lương thực bình quân là 512kg thóc/người/năm. Ngoài đa dạng hóa cây trồng, đưa và chuyển giao các nguồn giống mới vào, để có sự “tăng tốc”, các mô hình chăn nuôi đại gia súc, trồng cây thảo quả cũng được đưa về với Bát Đại Sơn.
Chỉ trong vài năm vận động, triển khai và cho vay vốn, hiện tại ngoài diện tích thảo quả đã trồng, Bát Đại Sơn đã đưa bình quân đầu gia súc trong toàn xã lên 2,38 con/hộ. Bằng việc đầu tư trường lớp, hiện tại tỷ lệ trẻ em từ 6 -14 tuổi trong cả xã đi học đã chiếm tới 98%. Riêng trẻ em vào lớp 1 ở Bát Đại Sơn đã được đảm bảo đi học 100%.