Ghép lại những điều nho nhỏ
Bây giờ ngồi nghĩ lại thì nhớ rằng đã nhiều người, nhiều việc, nhiều lúc có những cái hay khiến cho mình được hưởng nhiều cảm xúc đẹp.

Cảm kích, bồi hồi, nhận ra điều gì, hào hứng, phấn khích…, nhiều trạng thái quý giá làm mình trong trẻo, chân tình hơn. Mà những người, những việc cũng nhỏ gọn thôi, không lấy gì làm to tát, hoành tráng những đại cảnh bình nguyên.
Tôi nhớ về những người bạn viết mà như ta hay nói là ở tầm tầm địa phương, cả những bạn viết không chuyên, bạn viết thời học hành nữa. Họ, ở trong suy nghĩ, sáng tạo nhỏ bé lấp lánh sáng của mình, có thể tặng cho ta món quà xinh xắn mà chính họ không ngờ được. Chính ta cũng có khi không ngờ rồi trên đường tung bay chữ nghĩa, có lúc nó vẫn le lói nhắc ta niềm chân thành với văn bút qua thời gian. Đấy là khi mình nhớ lại mấy câu thơ, bài thơ thuở nào đọc cùng nhau nghe. Bao trùm lên đấy, là cái hào hứng một cách hồn nhiên của những người ít nhiều có chạm, chớm chạm vào một “cảnh giới thẩn thơ” nó hơi… khang khác bình thường.
20 năm rồi, hồi tôi được làm phó chủ nhiệm một câu lạc bộ thơ của Trung tâm văn hóa thông tin tỉnh Hà Tây. Làm phó là vì mình thanh niên, sinh viên, hăng hái chạy đi chạy lại được để hỗ trợ các thành viên câu lạc bộ hầu hết đã cao niên. Còn “chủ”, thì đương nhiên phải là một chị công tác ở trung tâm rồi, chị Lý Hoàng Hạnh. Chị là con của một bác ngày xưa lãnh đạo Đoàn kịch nói Hà Tây. Anh nhà chị là bộ đội. Nhà chị gần cơ quan. Chị vừa làm ở trung tâm vừa có một cửa hàng lưu niệm... Nhưng tôi không nhớ những điều đó bằng câu thơ của chị trong một bài lục bát: “Làn môi chúm chím ngậm đầy lời ru”. Bài thơ được nhạc sĩ Lê Minh phổ thành bài hát “Lời ru” dịu dàng nhiều người thích. Sau nhiều năm từ thời câu lạc bộ ấy, có dịp giao lưu ở trại sáng tác Tam Đảo, tôi gặp nhạc sĩ, ông vẫn bồi hồi nhắc đến bài hát.
Câu lạc bộ còn có một bác phó nữa rất cao tuổi, nhà thơ Hoài Linh, tình yêu thơ là ngọn lửa cuồng nhiệt thắp lên trong thân hình lay lắt của ông suốt nhiều năm. Tưởng đã có những khi sức yếu của con người quê Sen Chiểu, Phúc Thọ ấy sẽ cạn, nhưng thơ lại kéo ông dậy. Giờ sau nhiều năm rồi, tôi vẫn thích một số câu thơ, bài thơ, ý thơ của ông già Hoài Linh ấy. Sắc, gọn, giàu biểu cảm. Ông tả những chữ của thơ là “hon hỏn, em bế em bồng trên tay”. Tình yêu, ông ví như một luận án, chinh phục, sở hữu, nuôi giữ được tình yêu là vất vả khổ nhọc lắm! Đi đến được yêu thương, hôn nhân, chính là khi người trai trong bài thơ của ông đã bảo vệ thành công một công trình quan trọng của cuộc đời. Chiếc xe đạp cũ, thân hình gầy guộc quá đỗi, vừa nói xong ít câu chậm rãi vừa lấy hơi, điều nhịp, ông đến sinh hoạt câu lạc bộ thơ cùng mọi người hàng tháng đều đặn, mùa hè ông tự đạp xe, mùa đông con ông đưa đón. Thỉnh thoảng đến nhà tôi chơi, ông luôn mang theo thơ để đọc, hoặc gửi tôi đọc cho vui. Những bài thơ chép tay nắn nót trên giấy học sinh hoặc thuê đánh vi tính in ra khổ A4.
Câu lạc bộ có nhà thơ Hữu Kỳ viết nhiều. Mấy lần nghĩ mình tuổi đã cao, ông nói in tập thơ này là tập cuối. Nhưng thế nào một năm, hai năm sau ông lại ra cuốn nữa. Thực ra thơ ông nói chung không đặc sắc lắm, nhưng lại có cái tên một tập thơ làm tôi thích hồi đó, ở cái tuổi đôi mươi đang hăm hở tập viết: “Hoàng hôn vỗ cánh”. Ghép hai từ vào nhau, tự dưng tĩnh thành động, sắc màu và trạng thái lặng trầm bỗng nhiên linh hoạt. Mà sâu hơn, như có nỗi ngậm ngùi gì đó đang lóe lên. Ông Kỳ dành cả một tập thơ “Nhớ Mari” để viết về tuổi thơ của mình bên Pháp hơn nửa thế kỷ trước, tận hồi trước khi theo bố mẹ về Việt Nam. Thấp thoáng trong thơ ông, có khi trong cả đời ông, là mảnh vườn khu lao động lam lũ của những người thợ Việt và người lao động Pháp nghèo, những trò chơi vụng dại, những cuộc đuổi nhau, những lần đánh lộn, và cô bé Mari xinh xắn là hiện diện của một thiên thần. Ông Kỳ nhớ về Mari như một hình bóng của tuổi thơ bình dị, hồn nhiên nơi xứ người, và nghĩ về thơ ấu, là có nụ cười, đôi mắt Mari chờ đón. Tôi không nhớ thơ ông, tôi nhớ niềm da diết và day dứt vô vọng trong những năm tháng cuối đời của ông.
Hồi đó tôi quen và tham gia câu lạc bộ là nhờ Đỗ Anh Vũ, giờ là Tiến sĩ ngôn ngữ học đang làm ở kênh văn học học nghệ thuật VOV6 giới thiệu. Vũ đang học bên lớp ngôn ngữ, là thành viên câu lạc bộ ấy, rủ tôi đến dự sinh hoạt. Hóa ra ngay gần nhà mình có đến cả hai chục con người hằng tháng gặp nhau đọc thơ cho nhau nghe, mà sao tôi không biết. Nhóm sinh viên văn học, ngôn ngữ khóa 43 trường nhân văn chúng tôi dạo đó, niên khóa 1998-2002, đã dự mấy cuộc sinh hoạt ấm cúng với những mái đầu bạc đáng kính. Trẻ đọc thơ trẻ, già đọc thơ già, có xen kẽ đôi bài bình thơ, vài phát biểu cảm nhận. Một hai bài thơ vần điệu được nghệ sĩ thương binh tài hoa Phương Hồng ngâm trên nền tiếng sáo của nghệ sĩ Thái Sơn, một người thầy và tạo tác sáo, đàn có tiếng, hai nghệ sĩ đều có thâm niên công tác trong ngành văn hóa Hà Sơn Bình, Hà Tây (cũ). Những tối sinh hoạt thơ đều đặn, giản dị mà mến quý, trong lành. Tôi là con nhà… phó thường dân, bố mẹ làm nhà máy, không dễ khi nào cũng có dịp gặp, nghe những người sáng tác, làm nghệ thuật hoặc chuyên nghiệp, hoặc nghệ thuật quần chúng. Hồi bé con con học cấp một, nếu bỗng dưng nhà mình có ai cho cái giấy mời đi xem vở cải lương “Quạ thần và pho tượng đá” hay “Tình yêu và tội phạm”, “Mối tình oan nghiệt” hoặc “Đôi dòng sữa mẹ” ở Trung tâm văn hóa thông tin, xưa còn gọi là Nhà văn hóa trung tâm, thì đúng là ngỡ ngàng, nhớ đến tận bây giờ. Cho nên ở tuổi sinh viên, đang “ăn bám”, chưa xác định nghề ngỗng gì, ngồi sinh hoạt với các nhà thơ, tác giả, cả hội viên văn nghệ tỉnh lẫn không chuyên, ở trong cái nhà văn hóa to rộng ấy, thì cũng thật là không mấy khi có dịp!

Sau này nghĩ lại, thì chính những buổi sinh hoạt thơ ca phong trào ấy, lại thắp một phần hơi ấm cho công việc sáng tác và ý hướng sáng tác trong mình. Nó có cái không khí tiếp xúc và bộc bạch cần thiết cho người viết ở bên cạnh những sách vở, lý thuyết, bên cạnh những lang thang, lăn lóc đường đời. Nó như một không gian diễn đàn nhỏ bé, đơn sơ và khá thoải mái để anh thấy khi anh kêu lên những câu thơ vụng dại của mình thì có người nghe thấy, và ai đó nói đọc câu thơ tâm đắc thì anh cũng nhận lấy, nhận ra từ họ. Cũng như những tháng ngày kỳ cọm viết viết gạch gạch đến nửa đêm rồi chép sạch sẽ sang trang bên cuốn vở giấy thếp, sáng hôm sau đến lớp, nhóm bạn hẹn xuống một góc sân trường chụm lại đọc lên cùng nhau nghe.
Có một câu thơ tình yêu của bạn tôi, Thu Hiền, bây giờ vừa dạy vừa quản lý ở khoa Văn năm xưa, đã lâu năm rồi không thấy động tĩnh thơ ca gì nữa, nhưng tôi còn nhớ câu ấy: “Mùa đông tan trên môi”, rất được! Hoặc đơn giản hơn, nhưng tình cảm, Hiền có mấy câu: “Làng Dâu mùa hội chưa em nhỉ/ Tranh Đông Hồ có kịp đợi ta sang/ Sông Đuống chảy bao lần trong đục nữa/ Thì tháng năm xa cách sẽ tàn…”. Nếu Hiền còn sáng tác, tôi nghĩ sẽ có những gì đó hay hay. Cũng như Trọng Dương bạn tôi, đã “dâng mình” cho những ô vuông chữ Hán Nôm để biến thành nét mực bền bỉ trên những trang tư liệu, những cuốn sách dày khộp, mà không viết nữa những câu thơ: “Chờ mây về ngang qua ngõ/ Giăng mưa trên những lối vàng/ Ta chờ một thời nhung nhớ/ Mắt nai thả màu thu lam”, “Lưỡi bàng đỏ liếm vị kem gió bấc/ Em ưu tư tóc nhuộm môi Hàn/ Ta rét trộm làn da em mát/ Ủ lòng tay trà nóng khói đang tan…”.
Tất nhiên là không có nếu, nhất là nhìn lại những chục năm thì chẳng còn nếu cái gì được nữa. Năm ngoái hai Tiến sĩ bạn tôi được “lên chức” Phó giáo sư, quan trọng hơn thế nhiều là con đường học thuật lắm khi đơn độc thăm thẳm họ đi. Nhưng hình như, con đường ấy, cũng đã là câu thơ lặng lẽ sáng.
Quanh ta có bao nhiêu vẻ long lanh của tâm hồn, niềm trắc ẩn, sự cần lao, nhìn, nghe sẽ thấy. Ta nhận lấy ghép nối lại, nhận ra khuôn mặt bạn hữu, làm nên một phần diện mạo con người mình. Một diện mạo không hẳn cố định, bất di dịch, mà được đắp đổi, pha màu, làm đầy thêm từ những dáng nét, ân tình khác. Ai đó đã viết ra, sắp viết ra một điều gì từ gan ruột họ. Hãy nâng niu lấy, cùng nhau làm đẹp nó lên, đẹp những tấm lòng đã được đắp bồi cùng những nghĩ suy, những ngôn từ nhảy múa.