Giải Phóng - di sản vô giá của báo chí cách mạng
Lịch sử báo chí cách mạng Việt Nam đã có một tờ báo ra đời giữa chiến trường khói lửa, hoạt động trong khi bom B52 rải thảm, trong những cuộc càn quét của đối phương… và hoàn thành sứ mệnh lịch sử như một đơn vị chiến đấu đặc biệt. Đó là Báo Giải Phóng - Cơ quan trung ương của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam.

Ngày 20/12/1960, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam (sau đây xin gọi là Mặt trận) ra đời, đáp ứng yêu cầu lịch sử của phong trào đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Nhưng phải bốn năm sau, đến ngày 20/12/1964, đúng dịp kỷ niệm ngày thành lập Mặt trận, số báo Giải Phóng đầu tiên mới xuất hiện trong vùng giải phóng. Khoảng cách bốn năm ấy nói lên một sự thật khắc nghiệt: Để có một tờ báo cách mạng ở miền Nam lúc bấy giờ, ngoài nhân sự, cần phải có máy in, giấy, mực, chữ chì, bản kẽm… Nhưng, Báo Giải Phóng chỉ có ba cán bộ ban đầu và một khoảng rừng làm căn cứ…
Từ chuyến tàu không số đến số báo đầu tiên
Trong ký ức của những người làm Báo Giải Phóng, măng-sét và ma-két của tờ báo đã được phác thảo trong một hoàn cảnh rất đặc biệt. Trên con tàu biển không số từ miền Bắc chở vũ khí vào chiến trường miền Nam, nhà báo Kỳ Phương -Tổng Biên tập Báo Cứu quốc được điều vào chiến trường để tổ chức tờ báo của Mặt trận. Tàu cập bến Khâu Băng, Thạnh Phú, Bến Tre vào tháng 4/1964, ông chưa vội lên căn cứ Trung ương Cục và Mặt trận (mật danh R) mà dừng lại tìm hiểu cách tổ chức, in ấn, phát hành Báo Chiến thắng - tờ báo của Đảng bộ tỉnh Bến Tre, để học hỏi kinh nghiệm xuất bản một tờ báo trong vòng vây của đối phương.
Từ những nét phác thảo ban đầu ấy, Báo Giải Phóng được hình thành với sứ mệnh cổ vũ tinh thần chiến đấu của đồng bào miền Nam và cả nước, góp phần giúp bạn bè quốc tế hiểu đúng cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam. Lực lượng ban đầu rất mỏng. Ngoài nhà báo Kỳ Phương, chỉ có hai cán bộ là Trần Tâm Trí và Thái Duy từ miền Bắc vượt Trường Sơn vào căn cứ. Từ Củ Chi, nhờ sự giúp đỡ của chính quyền cách mạng, một số thanh thiếu niên vùng “đất thép” được đưa về R làm đủ việc: dựng lán, chạy văn thư, chép tin, đánh máy, tiếp liệu, chị nuôi… Có người khi vào báo mới mười ba, mười bốn tuổi, nhưng rồi dần trở thành phóng viên, biên tập viên, cán bộ quản lý.
Để có máy in Báo Giải Phóng, cấp trên điều mấy thợ máy và thợ in từ Nhà in Lê Văn Mãng ở chiến khu Long An lên R. Chính tốp thợ này, dẫn đầu là đồng chí Nguyễn Khắc Tư đã làm ra chiếc máy in kéo tay bằng cây rừng và sắt thép lấy được từ ấp chiến lược của địch. Cái máy in thô sơ ấy đã in số Báo Giải Phóng đầu tiên đúng ngày kỷ niệm 4 năm Mặt trận ra đời (20/12/1960 - 20/12/1964), khổ A2, 8 trang, 2 màu, chữ, tranh vẽ và ảnh đều khá sắc nét. Sự kiện ấy đánh dấu sự ra đời của một cơ quan báo chí với tinh thần vượt khó và bản lĩnh của những người làm báo cách mạng.
Mặt trận truyền thông trong chiến tranh ác liệt
Từ giữa năm 1965, máy bay B52 của quân Mỹ bắt đầu rải thảm các vùng căn cứ kháng chiến của ta. Chiến khu không còn tương đối an toàn. Sự có mặt trực tiếp của quân viễn chinh Mỹ đã biến miền Đông Nam Bộ, nhất là vùng Chiến khu C - Bắc Tây Ninh thành một tuyến lửa.
Trong bối cảnh đó, Báo Giải Phóng cùng Thông tấn xã Giải phóng, Đài Phát thanh Giải phóng, báo Quân Giải phóng, báo Văn nghệ Giải phóng và hệ thống báo chí các địa phương hình thành một mặt trận truyền thông đặc biệt. Đó là mặt trận của tiếng nói chính nghĩa, đối diện với bộ máy tuyên truyền khổng lồ của Mỹ và chính quyền Sài Gòn. Từng số báo, từng bản tin, từng bài xã luận, từng bức ảnh là “từng viên đạn chính trị” bắn thẳng vào “chiến tranh đặc biệt”, “chiến tranh cục bộ” của Mỹ, đồng thời nâng cao tinh thần cho đồng bào vùng giải phóng, vùng ven, đô thị và lực lượng vũ trang trên các chiến trường.
Không thể hiểu hết giá trị của Báo Giải Phóng nếu chỉ nhìn vào số trang, số kỳ hay số bản in. Trong chiến tranh, để tờ báo đến được tay người đọc là một hành trình sinh tử. Báo phải vượt rừng, qua sông, theo giao liên, luồn qua vùng tạm chiếm, có khi được đưa ra Hà Nội, vào nội thành Sài Gòn, đến tay cơ sở cách mạng, trí thức, sinh viên và bạn bè quốc tế. Một tờ báo in giữa rừng, khổ giấy có lúc lớn, lúc nhỏ, mực có lúc nhạt, lúc đậm. Với người đọc, tờ báo ấy là tiếng nói chính thống của Mặt trận, của những người yêu nước với niềm tin vào thắng lợi cuối cùng.

Không bao giờ bị gián đoạn
Thử thách lớn nhất của Báo Giải Phóng là cuộc hành quân Junction City mùa khô 1966-1967 của quân Mỹ. Từ ngày 22/2 đến 15/4/1967, quân Mỹ mở cuộc càn quy mô lớn vào Chiến khu Bắc Tây Ninh. Máy bay B52, trực thăng, xe tăng, pháo hạng nặng dọn đường cho bộ binh đánh vào vùng căn cứ. Các cơ quan truyền thông cách mạng đều trở thành mục tiêu. Riêng với Báo Giải Phóng, đòn đánh ác liệt nhất nhằm vào Nhà in Trần Phú, cách tòa soạn hơn một kilômét.
Nhà in bị địch đánh phá, máy in bị máy bay cẩu về Sài Gòn. Đội du kích của nhà in chiến đấu kiên cường, nhưng trước sự áp đảo của vũ khí hiện đại, lực lượng phải rút lui để bảo toàn. Đội du kích Báo Giải Phóng lúc ấy chỉ có năm chiến sĩ, có người chưa từng đánh giặc bằng súng, nhưng vẫn bám trụ giữ cơ quan. Trong trận càn ấy, Báo Giải Phóng đã chịu tổn thất đau đớn: ba đồng chí hy sinh, một đồng chí bị thương, để lại trong ký ức những người làm báo những cái tên không bao giờ phai mờ.
Sau trận càn Junction City, Báo Giải Phóng tạm ngừng in, nhưng không im tiếng. Những người làm Báo Giải Phóng tiếp tục “tác chiến” bằng báo nói: Bài vở, tin tức hàng ngày của phóng viên ở các chiến trường được phát trên sóng của Đài Phát thanh Giải phóng. Đây là một chi tiết quan trọng trong lịch sử báo chí cách mạng. Khi không còn máy in, tờ báo chuyển hình thức tồn tại: Viết cho đài phát thanh, viết cho báo ở Hà Nội. Những người làm Báo Giải Phóng đã chứng minh rằng một tờ báo cách mạng vững bền là do có đội ngũ có bản lĩnh chính trị vững vàng, khả năng bám sát chiến trường để tiếng nói chính nghĩa không bao giờ bị gián đoạn.
Tết Mậu Thân và sự ra đời Chính phủ Cách mạng lâm thời
Cuối năm 1967, cán bộ, phóng viên Báo Giải Phóng lại tụ họp về Tòa soạn trong không khí chuẩn bị cho đợt tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968. Nhiều phóng viên được phân công đi theo các hướng chiến trường. Có người được vào đô thị, có người bám vùng ven, bám dân, bám các đơn vị quân Giải phóng. Đồng chí Thép Mới - nhà báo lớn của báo chí cách mạng Việt Nam vào chiến trường, trở thành Tổng Biên tập, mở ra một giai đoạn mới của Báo Giải Phóng. Tòa soạn được củng cố theo hướng chính quy hơn với các phòng biên tập, nghiên cứu tổng hợp, tư liệu… Nhiều phóng viên, biên tập viên từ B2 (chiến trường Nam Bộ), từ miền Bắc, từ Việt kiều yêu nước ở Campuchia, từ những người ra khỏi nhà tù của chính quyền Sài Gòn được bổ sung cho tờ báo. Trong rừng, giữa thiếu thốn, những người thầy như Kỳ Phương, Thép Mới, Bùi Kinh Lăng, Trần Tâm Trí, Tô Quyên, Nguyễn Ngọc Thưởng, Nguyễn Nam Thái không chỉ làm báo mà còn đào tạo thế hệ kế tiếp. Họ dạy lớp trẻ cách nghĩ, cách đọc, cách viết, cách đứng vững trước gian khổ, cách giữ nhân cách của người cầm bút trong chiến tranh.
Tháng 6/1969, khi Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam được thành lập, Báo Giải Phóng kịp thời ra những số đặc biệt phục vụ sự kiện trọng đại này. Tư liệu cho biết chiếc máy in bán tự động, chữ chì và dụng cụ chế bản được đưa từ miền Bắc vào, qua nhiều chặng gian nan, đã góp phần làm nên những số báo khổ lớn phong phú về nội dung, hấp dẫn về hình thức. Trong điều kiện chiến tranh ngày càng ác liệt, đó là một nỗ lực phi thường. Nó cho thấy Báo Giải Phóng không chấp nhận làm báo “tạm bợ” mà càng gian khó càng có nội dung và hình thức hấp dẫn của một tờ báo chính thống.

Những con người làm nên Báo Giải Phóng
Lịch sử Báo Giải Phóng là lịch sử của một cơ quan báo chí trong hệ thống báo chí cách mạng suốt trong hai cuộc chiến tranh vệ quốc, và đó cũng là “lịch sử” của những con người: Nhà báo Kỳ Phương -Tổng Biên tập “đời đầu” nói ít, làm nhiều, hơn 4 năm miệt mài xây dựng nên tờ báo có uy tín lớn từ tay không. Nhà báo Thép Mới -Tổng Biên tập “đời thứ hai” tài hoa, không biết sợ bom đạn, sống hết mình với đồng nghiệp, để lại dấu ấn của một nhà báo - nghệ sĩ lớn. Tổng Biên tập Nguyễn Văn Khuynh - người đầu tiên của làng báo Việt Nam tổ chức bán báo trong vùng giải phóng, người tổ chức và dẫn đầu đội hình những người làm báo cách mạng tiến vào Sài Gòn và trực tiếp chỉ đạo ra Nhật báo Sài Gòn Giải phóng chỉ 4 ngày sau ngày toàn thắng. Đó là những người anh, người chị trong tập thể Báo Giải Phóng âm thầm lo từ bài vở đúng thời hạn, đúng yêu cầu về nội dung, lo từ bữa ăn đến viên thuốc cho cả cơ quan...
Cũng có những phóng viên chiến trường đi và không trở lại. Những công nhân nhà in, chị nuôi, nhân viên phát hành, giao liên, bảo vệ, đội du kích cơ quan - những người mà tên tuổi không xuất hiện trên mặt báo nhưng chính họ giữ cho tờ báo được sống. Nữ phóng viên Mai Trang bí mật vào Sài Gòn với vỏ bọc Việt kiều hồi hương, vừa mưu sinh vừa viết hàng trăm bài báo cho các báo đối lập, góp tiếng nói chính nghĩa ngay trong lòng đối phương. Có những cô gái, chàng trai tuổi mười tám đôi mươi vừa chống chịu sốt rét, vừa chạy bom, vừa tập viết tin, sửa bài, làm tư liệu... Có cả những đám cưới giữa rừng không hoa, không bánh nhưng đầy ắp nghĩa tình đồng đội.
Chính từ đời sống ấy, Báo Giải Phóng có một phẩm chất riêng. Chính luận mà không khô cứng, giàu tính nhân văn, phóng sự chiến tranh mà không thô ráp, tin tức cập nhật luôn chính xác… Báo Giải Phóng đưa tin chiến công, cổ vũ phong trào đấu tranh chính trị và binh vận, đồng thời lưu giữ đời sống chiến khu, tình đồng đội, niềm tin của những người sống giữa bao mất mát nhưng không để tâm hồn nghèo đi.
Sứ mệnh lịch sử và sự tiếp nối
Mùa Xuân 1975, khi chiến dịch giải phóng miền Nam bắt đầu, Báo Giải Phóng tiếp tục có mặt trong đội hình của Ban Tuyên huấn Trung ương Cục tiến về Sài Gòn. Chỉ ít ngày sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, ngày 5/5/1975, những người làm Báo Giải Phóng đã xuất bản Nhật báo Sài Gòn Giải phóng -Tiếng nói của nhân dân Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định, đáp ứng nhu cầu thông tin nóng hổi của một đô thị vừa bước sang trang sử mới. Sau đó, Báo Giải Phóng tiếp tục hoàn thành nhiệm vụ trong giai đoạn hậu chiến trước khi kết thúc sứ mệnh lịch sử và trở thành một phần trong dòng chảy Báo Cứu Quốc - Giải Phóng - Đại Đoàn Kết.
Nhìn lại, giá trị lớn nhất của Báo Giải Phóng không chỉ nằm ở con số 375 số báo in, hàng ngàn tin, bài báo nói. Tờ báo đặc biệt ấy chứng minh báo chí cách mạng luôn tồn tại, phát triển ngay trong hoàn cảnh tưởng như không thể. Máy in có thể bị phá, nhà in có thể phải sơ tán, giấy mực có thể cạn, phóng viên có thể hy sinh, nhưng tiếng nói của Mặt trận, tiếng nói của nhân dân miền Nam yêu nước, tiếng nói của khát vọng độc lập và thống nhất không bao giờ gián đoạn.
Thời điểm này, Báo Đại đoàn kết đang xây dựng hồ sơ đề nghị Nhà nước xem xét phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân cho Báo Giải Phóng, điều cần được nhìn nhận không phải chỉ là sự tri ân muộn màng với một tờ báo tiền thân, đó còn là sự ghi nhớ của lịch sử đối với một tập thể đã làm báo như ra trận, đã coi mỗi số báo là một nhiệm vụ ở chiến trường khốc liệt. Báo Giải Phóng xứng đáng là một trong những biểu tượng tiêu biểu của báo chí cách mạng Việt Nam thời chống Mỹ cứu nước.
Giữa rừng Bến Ra, tỉnh Tây Ninh hôm nay, tấm bia kỷ niệm Báo Giải Phóng luôn nhắc nhớ một thế hệ đã sống và viết trong lửa đạn. Những số báo in giữa rừng, những bản thảo nhuốm mồ hôi và có khi nhuốm máu, những máy ảnh, máy rọi, sổ tay, cây bút, khẩu súng, chiếc võng… là chứng tích của một thời báo chí đã vượt qua tận cùng gian khổ để giữ vững một điều giản dị mà thiêng liêng: Trên tuyến lửa, tờ báo ấy là một biểu tượng của niềm tin vào chiến thắng của cuộc kháng chiến giữ nước.