Giảm gánh nặng cho y tế công lập
Thời gian qua y tế tư nhân phát triển nhanh, góp phần giảm tải cho hệ thống bệnh viện công lập. Ở một số đô thị lớn, nhiều cơ sở y tế ngoài công lập đã đầu tư mạnh vào hạ tầng, trang thiết bị, dịch vụ chăm sóc người bệnh, quản trị bệnh viện và ứng dụng công nghệ.
Chia sẻ với hệ thống bệnh viện công
Theo TS Nguyễn Khánh Phương - Viện trưởng Viện Chiến lược và Chính sách Y tế (Bộ Y tế), y tế tư nhân hiện đã cung ứng khoảng 27% lượt khám, chữa bệnh ngoại trú và 7,1% lượt điều trị nội trú.
Tuy nhiên, sự phát triển của khu vực tư nhân vẫn chưa đồng đều. Phần lớn bệnh viện tư nhân có quy mô nhỏ; khoảng 70% có dưới 100 giường bệnh, trong khi số bệnh viện trên 300 giường chỉ chiếm khoảng 3%. Các bệnh viện tư nhân cũng chủ yếu tập trung tại đô thị lớn, địa phương có tốc độ phát triển kinh tế cao. Riêng Hà Nội và TPHCM chiếm khoảng 36% tổng số bệnh viện tư nhân trên cả nước.
Sự phân bố này phản ánh thực tế y tế tư nhân thường phát triển mạnh ở nơi có khả năng chi trả cao, mật độ dân cư lớn và thị trường dịch vụ y tế sôi động. Trong khi đó, ở vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn, nơi người dân cũng rất cần dịch vụ y tế chất lượng, khu vực tư nhân hiện diện còn hạn chế.
Một vấn đề khác là hoạt động của khu vực tư nhân hiện vẫn chủ yếu tập trung vào khám bệnh, chữa bệnh. Trong khi đó, tiềm năng tham gia vào phòng bệnh, quản lý bệnh mạn tính, chăm sóc sức khỏe ban đầu, phục hồi chức năng, chăm sóc người cao tuổi, đào tạo, nghiên cứu, kiểm nghiệm, sức khỏe số, sản xuất thuốc và thiết bị y tế còn rất lớn.
Theo Thứ trưởng Bộ Y tế Đỗ Xuân Tuyên, khu vực ngoài công lập có thể tham gia rộng hơn vào phòng bệnh, chữa bệnh, dân số và bảo trợ xã hội. Đây là cách tiếp cận quan trọng, bởi chăm sóc sức khỏe hiện đại không chỉ diễn ra trong bệnh viện, mà bắt đầu từ dự phòng, phát hiện sớm, quản lý nguy cơ, điều trị, phục hồi chức năng, chăm sóc tâm lý, dinh dưỡng và chăm sóc giảm nhẹ.
Thước đo là sự hài lòng của người bệnh
Nếu giai đoạn trước, phát triển y tế tư nhân thường được nhìn qua số lượng cơ sở, số giường bệnh, quy mô đầu tư, thì giai đoạn hiện nay đòi hỏi thước đo sâu hơn. Đó là chất lượng chuyên môn, an toàn người bệnh, khả năng tiếp cận dịch vụ, sự hài lòng của người dân và năng lực tham gia vào mục tiêu chăm sóc sức khỏe toàn dân.
Ông Đỗ Xuân Tuyên nhấn mạnh, chất lượng cuối cùng phải được đo bằng hiệu quả chăm sóc sức khỏe, sự an toàn của người bệnh, khả năng tiếp cận dịch vụ và mức độ hài lòng của người dân. Nói cách khác, cơ sở y tế tư nhân không thể chỉ được đánh giá qua cơ sở vật chất khang trang, thiết bị hiện đại hay quy mô đầu tư, mà phải chứng minh bằng kết quả điều trị, quy trình an toàn, đội ngũ nhân lực và sự tin cậy của người bệnh.
Theo Chủ tịch Hiệp hội Bệnh viện tư nhân Việt Nam Nguyễn Văn Đệ, dịch vụ y tế có thể vận hành theo cơ chế thị trường ở một số khía cạnh, nhưng sản phẩm cuối cùng không phải hàng hóa thông thường, mà là sức khỏe và tính mạng con người.
Trong định hướng phát triển y tế tư nhân đến năm 2030, tầm nhìn 2050, các chuyên gia đề xuất khu vực này cần chuyển mạnh từ mở rộng số lượng sang nâng cao chất lượng, năng lực cung ứng và liên kết công - tư. Đến năm 2030, y tế tư nhân cần trở thành cấu phần quan trọng của hệ thống y tế quốc gia, phát triển theo nhu cầu sức khỏe, nâng cao chất lượng, mở rộng năng lực cung ứng, tăng cường hợp tác công - tư và thúc đẩy đổi mới sáng tạo.
Đến năm 2050, y tế tư nhân được kỳ vọng trở thành lực lượng năng động của hệ thống y tế quốc gia, chất lượng cao, đổi mới sáng tạo, phát triển có chọn lọc; một số cơ sở có thể đạt trình độ quốc tế, đóng góp vào chăm sóc sức khỏe toàn dân, an ninh y tế và phát triển kinh tế.