Báo Đại Đoàn Kết Bất động sản

Gỡ “điểm nghẽn” đất ven sông, khơi nguồn lực phát triển

Báo Đại Đoàn Kết Tăng kích thước chữ

Gỡ “điểm nghẽn” đất ven sông, khơi nguồn lực phát triển

Báo Đại Đoàn Kết trên Google News
Gỡ “điểm nghẽn” đất ven sông, khơi nguồn lực phát triển
Một bến bãi khai thác vật liệu xây dựng trên sông Hồng. Ảnh: Đ.V

Với hơn 36.000ha lòng sông, bãi sông, Hà Nội đang sở hữu một không gian giàu tiềm năng về sinh thái, nông nghiệp, cảnh quan, giao thông, du lịch và sinh kế. Điều đáng nói, nhiều năm qua, nguồn lực này chưa được khai thác tương xứng; tình trạng lấn chiếm, tập kết vật liệu xây dựng, sử dụng đất sai mục đích vẫn diễn biến phức tạp. Việc hoàn thiện hành lang pháp lý, tổ chức lại vùng bãi theo quy hoạch được xem là yêu cầu cấp thiết để vừa bảo đảm an toàn đê điều, vừa khơi thông nguồn lực phát triển.

Áp lực từ những “điểm nghẽn”

Hà Nội hiện có khoảng 770,666km đê các loại, đi qua 79/126 xã, phường; khu vực lòng sông, bãi sông rộng khoảng 36.266ha, với khoảng 632.393 người dân sinh sống. Đây là không gian đan xen nhiều hoạt động từ sản xuất nông nghiệp, giao thông đường thủy đến tập kết hàng hóa, vật liệu xây dựng và các hoạt động kinh tế khác. Chính sự đa dạng về chức năng đang đặt ra không ít thách thức trong quản lý, khai thác vùng bãi ven sông.

Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội, đến tháng 6/2026, dọc các tuyến sông có 190 bãi tập kết, trung chuyển vật liệu xây dựng, trong đó 78 bãi đang hoạt động, 112 bãi tạm dừng. Đáng chú ý, trong số 78 bãi đang hoạt động chỉ có 34 bãi được giao hoặc cho thuê đất; 44 bãi, chiếm 56,4%, chưa có quyết định giao đất hoặc hợp đồng thuê đất. Trong 34 bãi có hồ sơ đất đai, chỉ 25 bãi được xác định đúng mục đích làm bãi trung chuyển vật liệu xây dựng, 9 bãi còn lại được giao, cho thuê với mục đích khác...

Trên thực tế, công tác quản lý, xử lý vi phạm các bến, bãi vẫn còn nhiều hạn chế. Tại xã Phú Xuyên có 13 bến tập kết, trung chuyển vật liệu xây dựng nhưng chỉ có 1 đơn vị được cấp phép. Dù 12 bến, bãi tự phát đã bị yêu cầu dừng hoạt động, tại một số khu vực ven sông Hồng vẫn xuất hiện tình trạng bốc dỡ, trung chuyển vật liệu.

Tại xã Trung Giã, hiện có 30 bến kinh doanh vật liệu xây dựng, trong đó 10 bến đã dừng hoạt động. UBND xã đã ban hành quyết định cưỡng chế đối với 7 trường hợp, 3 trường hợp tự dừng; 20 trường hợp còn lại đang tiếp tục được xử lý. Ông Nguyễn Hữu Vương - Phó Trưởng phòng Kinh tế xã Trung Giã cho biết, chính quyền đã sử dụng cọc bê tông chặn các lối xuống bãi để ngăn phương tiện ra vào các bến không phép. Tuy nhiên, sau khi lối đi chính bị chặn, một số chủ bến lại tìm cách mở đường khác.

Tại xã Phúc Lộc, khu vực bãi ven sông Hồng trải dài khoảng 14km cũng đặt ra áp lực lớn. Chính quyền địa phương cho rằng, ứng dụng camera để giám sát bến bãi, phương tiện vận chuyển là giải pháp cần thiết, song chi phí đầu tư thiết bị, đường truyền, trung tâm giám sát và nhân lực vận hành vượt quá khả năng của cấp xã.

Theo Đội Cảnh sát đường thủy số 1, Phòng Cảnh sát giao thông Công an TP Hà Nội, trên tuyến đơn vị quản lý có 62 bến, bãi vật liệu xây dựng, trong đó khoảng 21 bến được cấp phép và 41 bến chưa được cấp phép. Từ cuối năm 2025 đến nay, lực lượng chức năng đã xử lý 20 bến, bãi không phép, 1 bến hết thời hạn hoạt động và xử phạt 20 trường hợp liên quan hoạt động bốc xếp hàng hóa, vật liệu xây dựng, với tổng số tiền 876 triệu đồng...

Tạo hành lang pháp lý, khơi nguồn lực

Những con số trên cho thấy “điểm nghẽn” không chỉ nằm ở việc xử lý vi phạm mà còn ở bài toán tổ chức lại không gian ven sông theo hướng căn cơ, phù hợp quy hoạch, đúng quy định pháp luật. Tại kỳ họp thứ tư, tháng 6/2026, HĐND TP Hà Nội đã thông qua Nghị quyết quy định việc sử dụng, khai thác quỹ đất nông nghiệp tại bãi sông, bãi nổi ở các tuyến sông có đê để sản xuất nông nghiệp, phát triển nông nghiệp sinh thái, kết hợp du lịch, giáo dục trải nghiệm và tạo sinh kế. Đây là bước cụ thể hóa Luật Thủ đô năm 2026, tạo cơ sở pháp lý để khai thác hiệu quả hơn quỹ đất ven sông, thay vì để nguồn tài nguyên này bị bỏ hoang hoặc sử dụng thiếu kiểm soát.

PGS.TS Bùi Thị An, nguyên đại biểu Quốc hội khóa XIII, Viện trưởng Viện Tài nguyên, Môi trường và Phát triển cộng đồng, cho rằng không gian ven sông cần được nhìn nhận là không gian tích hợp nhiều giá trị, thay vì chỉ coi là “vùng ngoài đê” cần quản lý hành chính hoặc phòng, chống lũ.

Theo bà An, vấn đề hiện nay không hẳn do thiếu pháp luật mà chủ yếu nằm ở cơ chế phối hợp và trách nhiệm thực thi giữa các cơ quan. Vì vậy, cần xây dựng cơ chế phối hợp liên ngành với trách nhiệm rõ người, rõ việc, rõ thời hạn; đồng thời ứng dụng chuyển đổi số, cơ sở dữ liệu dùng chung và giám sát cộng đồng để nâng cao hiệu lực quản trị.

Tinh thần này cũng thể hiện rõ tại Kết luận số 213-KL/TW của Ban Bí thư về hoàn thiện pháp luật, cơ chế, chính sách, bảo vệ không gian thoát lũ và phân định rõ trách nhiệm từng cấp; Chỉ thị số 15/CT-UBND của Chủ tịch UBND TP Hà Nội cũng yêu cầu xử lý vi phạm gắn với trách nhiệm cụ thể của từng đơn vị.

Quản lý chặt chẽ vì thế không đồng nghĩa với đóng cửa mọi hoạt động trên đất bãi. Hà Nội cần phân loại từng khu vực, từng loại hình sử dụng đất; đồng thời rà soát đồng bộ quy hoạch, đất đai, đê điều, môi trường và giao thông đường thủy để xác định rõ hoạt động được phép, hoạt động phải di dời.

Ở góc độ pháp lý, luật sư Đỗ Hữu Đĩnh - Giám đốc Công ty Luật Việt Kim (Đoàn Luật sư TP Hà Nội), cho rằng việc cấp phép tạm thời cần được xem xét thận trọng, không thể trở thành cách hợp thức hóa vi phạm hoặc làm giảm yêu cầu an toàn. Nếu cho phép hoạt động tạm thời, phải giới hạn thời gian, có lộ trình cụ thể và cơ chế giám sát chặt chẽ. Thực tế cũng cho thấy còn “khoảng trống” giữa yêu cầu đóng các bến hiện hữu và tiến độ hình thành hệ thống cảng, bãi hợp pháp thay thế. Do đó, Hà Nội cần cách tiếp cận linh hoạt nhưng không buông lỏng quản lý.

Theo luật sư Đĩnh, thành phố có thể nghiên cứu một “luồng xanh” về thủ tục đối với những bến, bãi phù hợp quy hoạch và có khả năng đáp ứng đầy đủ điều kiện. Những bến không phù hợp quy hoạch, lấn chiếm lòng sông, cản trở thoát lũ hoặc không bảo đảm an toàn phải kiên quyết giải tỏa. Những bến bãi phù hợp quy hoạch nhưng còn thiếu thủ tục, cơ quan chức năng cần trả lời rõ hồ sơ còn thiếu, khả năng hoàn thiện và thời hạn giải quyết…

Hà Nội đang đứng trước yêu cầu kép: bảo đảm an toàn đê điều, thoát lũ nhưng đồng thời phải khai thác hiệu quả quỹ đất ven sông. Hai mục tiêu này hoàn toàn có thể song hành nếu không gian ven sông được quy hoạch bài bản và quản lý bằng dữ liệu, công nghệ… Về lâu dài, quản lý vùng bãi cần chuyển từ tư duy xử lý từng vụ việc sang quản trị tổng thể. Một cơ sở dữ liệu thống nhất về đất đai, đê điều, bến bãi, quy hoạch và hoạt động khai thác sẽ giúp các cơ quan cùng quản lý trên một nền dữ liệu, hạn chế chồng chéo và đùn đẩy trách nhiệm.

Khi hành lang pháp lý được hoàn thiện, quy hoạch được công khai, thủ tục được giải quyết minh bạch, nguồn lực ven sông sẽ có cơ hội được đánh thức. Những khu đất bỏ hoang có thể trở thành vùng sản xuất nông nghiệp sinh thái; các không gian có lợi thế cảnh quan có thể phát triển du lịch, giáo dục trải nghiệm; giao thông đường thủy được tổ chức hợp lý sẽ mở thêm dư địa phát triển. Tháo gỡ những “điểm nghẽn” về quy hoạch, thủ tục và cơ chế phối hợp chính là giải pháp căn cơ để biến vùng đất ven sông từ không gian khó quản lý thành nguồn lực phát triển. Trong quá trình triển khai Luật Thủ đô năm 2026 và Quy hoạch tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm, đây là một trong những dư địa quan trọng để Hà Nội phát triển xanh, bền vững, hài hòa giữa bảo vệ tự nhiên và nâng cao đời sống người dân.

Theo chuyên gia đô thị Đinh Quốc Thái, trong bối cảnh năm 2026 Hà Nội phấn đấu tăng trưởng 11% trở lên, việc đẩy nhanh các dự án trọng điểm, đầu tư công, hạ tầng và đô thị đòi hỏi nguồn vật liệu rất lớn…

Gỡ “điểm nghẽn” đất ven sông, khơi nguồn lực phát triển

Tháo gỡ “điểm nghẽn” thủ tục vì thế cũng là giải pháp khơi thông nguồn lực, nhưng phải được thực hiện trên nguyên tắc không đánh đổi an toàn đê điều, không gian thoát lũ và môi trường. Quản trị vùng đất bãi cần được đặt trên hai trụ cột: nghiêm minh và kiến tạo. Nghiêm minh để không dung túng lấn chiếm, không hợp thức hóa vi phạm, không đánh đổi an toàn và kỷ cương pháp luật. Kiến tạo để nguồn lực hợp pháp không bị đóng băng, doanh nghiệp đủ điều kiện không phải chờ đợi vô thời hạn và nhu cầu chính đáng của nền kinh tế được đáp ứng.

Đạt Lê