Báo Đại Đoàn Kết Dân tộc

Gỡ khó vùng 'túi nghèo'

Báo Đại Đoàn Kết Tăng kích thước chữ

Gỡ khó vùng 'túi nghèo'

Báo Đại Đoàn Kết trên Google News

Ngày 26/4, Ủy ban Dân tộc phối hợp với UNDP tổ chức hội thảo “Thúc đẩy phát triển dân tộc thiểu số - Không để ai bị bỏ lại phía sau”. Thông tin tại đây cho biết, tới nay gần 1/3 số hộ dân tộc thiểu số thuộc diện hộ nghèo và cận nghèo. Thu nhập bình quân đầu người trong nhóm này chỉ bằng khoảng 1 nửa so với thu nhập bình quân đầu người trên cả nước.


Cần chính sách tích cực để kinh tế- xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số nâng lên.

Ngày 26/4, Ủy ban Dân tộc phối hợp với UNDP tổ chức hội thảo “Thúc đẩy phát triển dân tộc thiểu số - Không để ai bị bỏ lại phía sau”. Thông tin tại đây cho biết, tới nay gần 1/3 số hộ dân tộc thiểu số thuộc diện hộ nghèo và cận nghèo. Thu nhập bình quân đầu người trong nhóm này chỉ bằng khoảng 1 nửa so với thu nhập bình quân đầu người trên cả nước.

Những ai còn ở lại phía sau?

Theo Thứ trưởng, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc (UBDT) Lê Sơn Hải cho biết, nhờ sự quan tâm đặc biệt với vùng dân tộc thiểu số (DTTS) đã có bước phát triển ấn tượng, đời sồng vật chất, tinh thần của đại bộ phận DTTS từng bước nâng lên, trẻ em được đến trường nhiều hơn, người tiếp cận dịch vụ công nhiều hơn, tuy nhiên, so với chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo bền vững giai đoạn 2012-2015 thì nhiều chỉ tiêu chưa đạt. Vẫn có sự chênh lệnh đáng kể về mức sống giữa các hộ dân tộc kinh và đồng bào DTTS sống trên cùng địa bàn. Các hộ gia đình DTTS vẫn còn gặp nhiều bất lợi và rào cản trong việc tiếp cận các nguồn lực cần thiết cho sản xuất như vốn, thị trường và đất nông nghiệp.

Nói rõ về vấn đề này, Phó Vụ trưởng Vụ Tổng hợp UBDT Nguyễn Cao Thịnh cho biết: Cả nước có tới 1,12/3,04 triệu hộ DTTS là hộ nghèo và cận nghèo. 4 dân tộc có tỷ lệ nghèo dưới 10%, 13 dân tộc có tỷ lệ nghèo từ 10-20%, 13 dân tộc có tỉ lệ hộ nghèo lên tới 40%, 7 dân tộc có tỉ lệ hộ nghèo trên 50% là Xinh Mun, Khơ Mú, Co, Ơ Đu, Chứt, Mảng và La Hủ. Như vậy, nếu mỗi năm giảm nghèo bình quân trên cả nước là 4% theo QĐ 1557/QĐ-TTg thì có 3 dân tộc phải mất ít nhất 20 năm, 14 dân tộc mất ít nhất 10 năm, 10 dân tộc ít nhất mất 7 năm mới thoát nghèo. Có tới 21,8% tỷ lệ người DTTS chưa biết đọc, viết tiếng phổ thông, đây là điều đáng quan ngại. Bởi, nếu mỗi năm giảm 1,2% tỷ lệ xóa mù thì có dân tộc phải mất tới 25 năm mới xóa mù cho vùng DTTS. Tỷ lệ người DTTS sử dụng thẻ bảo hiểm y tế để khám chữa bệnh trung bình chỉ đạt 44,8%.

Tập quán sinh con ở nhà còn rất phổ biến, mới có 64% các ca sinh được thực hiện ở các cơ sở y tế, trong khi đó có đến một nửa các DTTS lựa chọn phương pháp sinh con tại nhà là chủ yếu. Người dân tộc biết đọc, viết tiếng phổ thông chưa cao, có nhiều dân tộc một nửa dân số mù chữ. Gần 1/3 số hộ DTTS thuộc diện hộ nghèo và cận nghèo. Thu nhập bình quân đầu người trong nhóm DTTS chỉ bằng khoảng một nửa so với thu nhập bình quân đầu người trên cả nước.

Chính sách “một cho tất cả” cản lối thoát nghèo

Lý giải những lý do vì sao những năm qua Đảng, Nhà nước vẫn dành những chính sách đặc biệt cho DTTS nhưng vẫn còn khoảng cách khá xa so với bình quân chung, theo UBDT, dù nhiều chính sách được ban hành nhưng những chính sách này thường được thiết kế theo phương thức “một can thiệp cho tất cả”, trong khi đặc điểm mỗi vùng miền, địa phương, dân tộc rất khác biệt. Điều này không chỉ làm giảm sự phù hợp của chính sách mà còn hạn chế tính sáng tạo, hiệu quả trong thực hiện chính sách ở địa phương. Hầu hết các chính sách đều có đặc điểm chung là hỗ trợ mang tính “cho không” mà không theo hướng “có điều kiện”, nghĩa là người nghèo, hộ nghèo phải có trách nhiệm khi thụ hưởng chính sách để tránh trông chờ, ỉ lại vào chính sách nhà nước.

Trong khi chiến lược, kế hoạch phát triển và các chương trình, đề án, dự án, chính sách có liên quan chỉ là ghi là “ưu tiên DTTS” mà không cụ thể hóa được các kết quả phát triển và nguồn lực tương ứng cho DTTS là gì. Hầu hết mới chỉ đạt ra các kết quả đầu ra mà không phải là kết quả phát triển của DTTS. Giữa mục tiêu chính sách và các nhiệm vụ, giải pháp và nguồn lực thực hiện không đồng bộ và tương xứng, thường các chính sách rơi vào tình trạng mục tiêu đề ra quá lớn, trong khi nhiệm vụ, giải pháp, nguồn lực cho dù có được đáp ứng như quy định trong chính sách nhưng không đạt mục tiêu đề ra. Chẳng hạn với chính sách 135 giai đoạn 2,3, chúng ta liên tục mở rộng đối tượng, thôn bản trong khi kinh phí có hạn lại trải rộng diện hưởng thụ như vậy sẽ thiếu hiệu quả không thể bằng lựa chọn ít đối tượng dứt họ ra khỏi cái đói, cái nghèo.

Tích hợp nhiều chính sách

Ông Lê Sơn Hải cho biết, thời gian tới tiếp tục hoàn thiện cơ chế chính sách, đảm bảo các dân tộc bình đẳng, tôn trọng, đoàn kết giải quyết hài hòa quan hệ giữa các dân tộc, giúp nhau cùng phát triển, tạo chuyển biến trong phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội vùng có đồng bào DTTS, nhất là vùng Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ, duyên hải miền Trung. Sẽ nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo, chất lượng nguồn nhân cho vùng DTTS. Đồng thời tăng cường kiểm tra, giám sát đánh giá kết quả thực hiện các chủ trương, chính sách dân tộc đã được ban hành.Đặc biệt, khi ban hành các chính sách cần xác định rõ hình thức, cơ chế để người dân và cộng đồng đặc biệt đối tượng được thụ hưởng tham gia vào quá trình xây dựng chính sách.

Ông Richard Marshall- cố vấn chính sách về giảm nghèo và bảo trợ xã hội UNDP khuyến nghị: Cần xây dựng chính sách phổ quát, nhưng không có nghĩa nhà nước cung cấp hoàn toàn nhưng phải có dịch vụ cơ bản cho mọi người đều được hưởng. Tất nhiên các nước đang phát triển còn khó khăn về nguồn lực nhưng cần đưa ra cơ hội phổ cập hóa một số dịch vụ thiết yếu cho tất cả các nhóm người trong xã hội.

Cần đổi mới cách tiếp cận và xây dựng chính sách cho vùng DTTS đảm bảo yêu cầu khoa học và hiệu quả, chuyển mạnh sang hướng xây dựng các dự án tích hợp thay cho những chính sách rời rạc như hiện nay. Đồng thời, thí điểm cơ chế Trung ương chỉ ban hành chính sách khung gắn với mục tiêu cụ thể cần đạt được và phân cấp cho địa phương tổ chức thực hiện chính sách để phát huy tính chủ động, sáng tạo, trách nhiệm và phù hợp, hiệu quả của các chính sách. Đồng thời áp dụng cơ chế đánh giá chính sách độc lập để phục vụ sơ kết, tổng kết sửa đổi bổ sung và xây dựng chính sách cho phù hợp, hiệu quả - ông Nguyễn Cao Thịnh đề nghị.

Lục Bình