Báo Đại Đoàn Kết Công nghệ

Hệ sinh thái số dDUT: Bước tiến mới trong xây dựng đại học số

Báo Đại Đoàn Kết Tăng kích thước chữ

Hệ sinh thái số dDUT: Bước tiến mới trong xây dựng đại học số

Báo Đại Đoàn Kết trên Google News
Hệ sinh thái số dDUT: Bước tiến mới trong xây dựng đại học số
Chuyển đổi số là động lực mới góp phần nâng cao chất lượng đào tạo và nghiên cứu khoa học. Ảnh: M.H

Việc ra mắt Hệ sinh thái số dDUT không chỉ đánh dấu một bước tiến về ứng dụng công nghệ, mà còn phản ánh cách tiếp cận mới trong quản trị và vận hành đại học theo hướng số hóa toàn diện, lấy dữ liệu làm nền tảng cho các hoạt động đào tạo, nghiên cứu và quản lý.

Bài toán quản trị đại học trong môi trường số

Mới đây, tại Hội nghị tổng kết công tác chuyển đổi số năm 2025, Trường Đại học Bách khoa - Đại học Đà Nẵng chính thức ra mắt Hệ sinh thái số dDUT (Digital DUT). Sự kiện diễn ra trong bối cảnh chuyển đổi số đang trở thành yêu cầu cấp thiết đối với giáo dục đại học, không chỉ nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, mà còn đáp ứng những thay đổi nhanh chóng của môi trường đào tạo, nghiên cứu và phục vụ người học.

dDUT được xây dựng như một hệ sinh thái gồm các nền tảng, phần mềm và dịch vụ số do nhà trường trực tiếp phát triển, phục vụ đồng thời cho công tác quản lý, giảng dạy và học tập. Mục tiêu cốt lõi của hệ sinh thái này là tích hợp và liên thông dữ liệu giữa các phân hệ, khắc phục tình trạng vận hành rời rạc vốn tồn tại trong nhiều năm tại các cơ sở giáo dục đại học.

Theo TS Đặng Thiên Bình, Tổ trưởng Tổ Công nghệ thông tin, Trường Đại học Bách khoa - Đại học Đà Nẵng, trước khi triển khai dDUT, nhà trường đã có nhiều phần mềm phục vụ từng mảng công việc khác nhau, song dữ liệu phân tán, thiếu kết nối, gây khó khăn cho công tác tổng hợp thông tin và hỗ trợ ra quyết định. Trên cơ sở đó, dDUT được thiết kế theo kiến trúc dữ liệu tập trung, bảo đảm sự đồng bộ giữa các hệ thống, cho phép khai thác dữ liệu theo thời gian thực, đồng thời nâng cao tính thống nhất và chính xác trong quản lý.

Cách tiếp cận này cho thấy dDUT không chỉ dừng lại ở việc số hóa các quy trình hành chính hay hỗ trợ tác nghiệp, mà hướng tới xây dựng nền tảng quản trị đại học dựa trên dữ liệu. Thông qua các hệ thống quản lý đào tạo, đánh giá chuẩn đầu ra, khảo sát người học, quản lý cán bộ và nghiên cứu khoa học, dữ liệu được kết nối và sử dụng xuyên suốt, góp phần nâng cao tính minh bạch và hiệu quả trong điều hành nhà trường.

Ở góc độ quản lý hệ thống, PGS.TS Nguyễn Ngọc Vũ, Giám đốc Đại học Đà Nẵng, đánh giá việc ra mắt hệ sinh thái số dDUT là minh chứng cho quyết tâm xây dựng môi trường đại học số hiện đại, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động giảng dạy, học tập và quản lý. Theo ông Vũ, đây là bước đi cụ thể nhằm hiện thực hóa chủ trương chuyển đổi số trong giáo dục đại học, đồng thời có ý nghĩa lan tỏa đối với các cơ sở đào tạo thành viên trong toàn hệ thống Đại học Đà Nẵng.

Không chỉ tập trung vào yếu tố công nghệ, quá trình xây dựng dDUT còn gắn với việc đổi mới cách tổ chức và vận hành các hoạt động trong nhà trường. Một điểm đáng chú ý được nêu tại hội nghị là nhiều sản phẩm trong hệ sinh thái dDUT có sự tham gia trực tiếp của sinh viên công nghệ thông tin, dưới sự hướng dẫn của giảng viên. Cách làm này vừa góp phần nâng cao chất lượng đào tạo, vừa tạo điều kiện để sinh viên tiếp cận thực tiễn, từng bước làm chủ công nghệ ngay trong môi trường học tập.

Chuyển đổi số đại học không chỉ là công nghệ

Từ thực tiễn triển khai, các chuyên gia cho rằng chuyển đổi số đại học không thể hiểu đơn giản là đầu tư hạ tầng hay triển khai phần mềm, mà là một quá trình thay đổi toàn diện về tư duy và phương thức quản trị.

PGS.TS Nguyễn Hữu Hiếu, Hiệu trưởng Trường Đại học Bách khoa - Đại học Đà Nẵng, nhấn mạnh rằng chuyển đổi số không bắt đầu từ công nghệ, mà bắt đầu từ con người, từ việc thay đổi tư duy quản lý, phương thức làm việc và tinh thần trách nhiệm của từng cá nhân, đơn vị trong tổ chức. Theo ông, công nghệ chỉ phát huy hiệu quả khi được đặt trong một chiến lược tổng thể, gắn với mục tiêu phát triển dài hạn của nhà trường.

Thực tế cho thấy, chuyển đổi số là phép thử đối với năng lực quản trị và thể chế của các cơ sở giáo dục đại học. Nếu chỉ dừng lại ở việc số hóa các quy trình cũ, chuyển đổi số khó tạo ra thay đổi thực chất. Ngược lại, khi gắn với cải cách quản trị, chuẩn hóa quy trình và sử dụng dữ liệu làm cơ sở cho ra quyết định, công nghệ mới thực sự trở thành công cụ thúc đẩy đổi mới.

Từ góc độ triển khai, TS Đặng Thiên Bình cho rằng việc xác định đúng nhu cầu và xây dựng lộ trình phù hợp là yếu tố then chốt. Nhà trường đã tiến hành khảo sát để làm rõ những lĩnh vực cần ưu tiên chuyển đổi số, từ đó lựa chọn giải pháp và cách thức triển khai phù hợp với điều kiện thực tế. Cách làm này giúp tránh đầu tư dàn trải, đồng thời bảo đảm hệ thống số được xây dựng phục vụ trực tiếp cho yêu cầu quản lý và đào tạo.

Ở phạm vi rộng hơn, chuyển đổi số đại học còn gắn với yêu cầu nâng cao năng lực số cho đội ngũ giảng viên, cán bộ quản lý và sinh viên. Việc đưa các học phần liên quan đến trí tuệ nhân tạo và chuyển đổi số vào chương trình đào tạo, như Trường Đại học Bách khoa - Đại học Đà Nẵng đang triển khai, cho thấy sự kết nối giữa chuyển đổi số trong quản lý với đổi mới nội dung và phương pháp đào tạo.

Trong bối cảnh đó, dDUT có thể được xem là một ví dụ cụ thể cho cách tiếp cận chuyển đổi số theo hướng hệ thống, lấy dữ liệu và con người làm trung tâm. Những kết quả bước đầu cho thấy, khi công nghệ được triển khai song hành với đổi mới quản trị, chuyển đổi số không chỉ giúp nâng cao hiệu quả vận hành, mà còn góp phần hình thành môi trường học tập và làm việc minh bạch, linh hoạt hơn, hướng tới mục tiêu xây dựng đại học số một cách bền vững.

Thùy Liên