Họa sĩ Đỗ Đức: Người vẽ “Non nước biên thùy” đã đi xa
Khi nghe tin họa sĩ Đỗ Đức qua đời, thật tình tôi không nghĩ là ông lại ra đi nhanh như thế. Tôi biết, mấy tháng nay, họa sĩ Đỗ Đức mệt nhiều, vào - ra bệnh viện liên miên. Nhưng thi thoảng, vẫn thấy ông lên mạng xã hội chia sẻ những hình ảnh, sự kiện lạc quan: khi thì triển lãm đón xuân Bính Ngọ, lúc thì tổ chức cưới con gái và “của hồi môn” cho con là những bức tranh sơn mài… Ông vẫn hẹn tôi một ngày nào đó, thật gần, đến chơi. Nhưng không ngờ, họa sĩ Đỗ Đức đã ra đi lúc rạng sáng ngày 7/4.
Không hiểu sao, tôi cứ nghĩ họa sĩ Đỗ Đức đang đi vắng một thời gian, như thể thi thoảng ông lại mất hút khỏi phố phường chật hẹp để rong ruổi với những lớp sương xa bảng lảng nơi biên thùy, thăm lại những vùng đất, gặp lại những con người miền núi cao Tây Bắc.
Mới tuần trước, tôi còn đọc bài viết của ông trên tờ báo mà ông vẫn bền bỉ cộng tác suốt mấy chục năm. Đó là bài “Nhớ miền mây trắng”. Họa sĩ Đỗ Đức viết: “Những ngày này tôi hay nhớ tới Sơn La, vùng mây trắng mờ ảo trên miền Tây đất nước mà tôi nhiều lần đặt chân đến. Tôi nhớ mùa này đi qua Mộc Châu sẽ nhiều lần phải chui trong biển sương mù dày đặc hàng chục cây số. Dày đến nỗi bật đèn vàng cho ô tô mà tầm quan sát cũng chỉ chừng mười mét”…
Nhớ sương, nhớ núi, cũng là để nhớ người. Họa sĩ Đỗ Đức nhớ tới vợ chồng ông Đinh Chanh - Lò Thị Vạt. “Hai con người bình dị mà tôi quen biết gần nửa thế kỷ…”. Những dòng hồi ức ấy không chỉ là hoài niệm, mà là một thứ tình cảm đã ngấm rất sâu vào đời sống của ông - thứ tình cảm của một người không đứng ngoài để nhìn vùng cao, mà đã sống trong đó, đi cùng đó, và giữ lại trong mình từng khuôn mặt, từng phận người.

Họa sĩ Đỗ Đức sinh năm 1945, thuộc thế hệ họa sĩ trưởng thành trong giai đoạn hội họa hiện đại Việt Nam còn đậm dấu ấn hiện thực. Ông được đào tạo bài bản, tốt nghiệp Trường Đại học Mỹ thuật Hà Nội năm 1980, từng làm báo ở Thái Nguyên, sau đó công tác nhiều năm tại Nhà xuất bản Văn hóa Dân tộc. Nhưng nếu nhìn theo cách ông đi và vẽ, những địa chỉ ấy dường như chỉ là phần nổi; phần sâu hơn nằm ở những năm tháng ông sống cùng vùng cao, như một định mệnh đã định hình từ rất sớm.
Với hơn nửa thế kỷ cầm bút vẽ, họa sĩ Đỗ Đức say mê với mảng đề tài về phong cảnh và đời sống sinh hoạt của đồng bào các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc. Đây cũng là mảng đề tài ông để lại dấu ấn cá nhân đậm nét, với hơn 30 tác phẩm hiện nằm trong bộ sưu tập của Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, Bảo tàng Văn hóa các dân tộc Việt Nam (Thái Nguyên), Bảo tàng châu Á - Thái Bình Dương và một số nhà sưu tập nước ngoài.
Quãng thời gian làm việc tại Nhà xuất bản Văn hóa Dân tộc cũng cho ông cơ hội gắn bó sâu hơn với đời sống đồng bào miền núi. Nhưng có lẽ, mối duyên lớn nhất bắt đầu từ năm 1973, khi ông lần đầu lên Hà Giang, đi qua Đồng Văn, Quản Bạ. Chỉ 23 ngày, nhưng chuyến đi ấy đã theo ông suốt cả cuộc đời. Từ đó, bước chân ông in dấu khắp cao nguyên đá Đồng Văn, lan rộng ra Tây Bắc, Việt Bắc, Đông Bắc - những chuyến đi bền bỉ như chính nhịp đi của những con ngựa miền núi trong tranh ông.
Đỗ Đức là người nặng tình với đất và người vùng cao. Đất và người ấy đi vào tranh ông, không phải như phong cảnh để ngắm, mà như một không gian sống có nhịp thở. Trong những bức tranh về Khau Vai, Mèo Vạc hay những dải núi Tây Bắc, người ta không chỉ thấy đá, thấy sương, mà còn thấy dấu vết của con người - những dáng đi lặng lẽ, những con ngựa thồ cúi đầu, những nương ngô xanh lên từ kẽ đá. Đá và người trong tranh ông, không đối chọi, mà nương tựa nhau để tồn tại.
Có lẽ cũng vì thế, ngựa trong tranh Đỗ Đức không bao giờ là hình ảnh đứng riêng. Ngựa đi cùng người, cúi đầu trong những dốc đá, lặng lẽ chia sẻ nhọc nhằn. Ngựa không được vẽ để đẹp, mà để sống. Nhìn kỹ, những con ngựa ấy mang dáng dấp của con người miền núi: nhẫn nại, ít lời, đi bền bỉ qua những chặng đường dài. Và cũng như chính người họa sĩ, suốt đời lặng lẽ đi, lặng lẽ vẽ, không ồn ào nhưng để lại một dấu ấn rất sâu đậm.
Và không chỉ đi vào tranh, vùng cao còn đi vào những trang sách, những công trình nghiên cứu mà ông dành nhiều năm tâm sức. Từ “Trang phục và nét văn hóa của các dân tộc thiểu số phía Bắc Việt Nam” đến hàng chục cuốn sách về đời sống văn hóa… tất cả đều cho thấy một Đỗ Đức không chỉ là họa sĩ, mà còn là một nhà văn hóa ghi chép đời sống bằng nhiều thể loại khác nhau.
Họa sĩ Đỗ Đức đã đi xa. Nhớ về ông, tôi nhớ tới một con người hồn hậu, sống chan hòa, lặng lẽ mà bền bỉ với nghề, với người, với những miền đất đã gắn bó suốt đời mình.
Tôi không ngờ, lần gặp ông ở xưởng vẽ Ngọc Khánh những ngày cuối năm giáp Tết Bính Ngọ lại là lần gặp cuối cùng. Tôi không ngờ, bài phỏng vấn ông qua điện thoại khi ông bày triển lãm tranh “Mùa xuân biên cương” tại Trung tâm Văn hóa Hồ Gươm mới đây lại là cuộc trò chuyện sau cuối.
Tạm biệt họa sĩ Đỗ Đức - một con người hồn hậu, cháy hết mình cho nghệ thuật, cho vùng cao hẻo lánh, và cho bè bạn. Họa sĩ Đỗ Đức đã đi xa, nhưng những miền mây trắng, những sương núi biên thùy, và những con ngựa lặng lẽ trong tranh ông thì vẫn còn ở lại, như một phần ký ức không dễ phai trong lòng bạn bè.
Khi nghe tin họa sĩ Đỗ Đức qua đời, nhà thơ Nguyễn Quang Thiều - Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam, chia sẻ trên trang cá nhân: “Ông là một họa sĩ tên tuổi trong làng hội họa Việt Nam. Ông là một hoạ sĩ đầy tự trọng và nghiêm khắc với nghề, nhưng lại luôn khích lệ những người chập chững bước vào thế giới màu sắc mênh mông và vô tận ấy. Sau này, tôi mới hiểu thái độ đó của ông. Đấy là tấm lòng độ lượng của ông. Đấy là cách ông yêu quí và khích lệ bất cứ ai có khát vọng đi về phía Cái Đẹp.
Ông không chỉ là họa sĩ, ông còn là một nhà văn. Tôi đã đọc một số tác phẩm của ông. Bản chất con người ông là coi trọng nghệ thuật và nghiêm túc với sáng tạo nghệ thuật. Vì thế mà mỗi câu văn cũng như mỗi nét vẽ của ông đều mang tinh thần như của một nghi lễ”.
Tang lễ họa sĩ Đỗ Đức diễn ra từ 9h ngày 11/4 tại số 5 Trần Thánh Tông, Hà Nội. An táng tại nghĩa trang Ninh Hiệp, Gia Lâm, Hà Nội.