Kể chuyện Lang Biang
Tại Kỳ họp lần thứ 27 của Hội đồng Điều phối Quốc tế Chương trình con người và sinh quyển của UNESCO, Paris tháng 6-2015, Khu dự trữ sinh quyển Lang Biang (Lâm Đồng) được công nhận là Khu dự trữ sinh quyển thế giới. Nơi đây còn lưu giữ những giá trị toàn cầu về đa dạng sinh học, cảnh quan thiên nhiên hòa quyện với những nét văn hóa đặc sắc.
Hoa Dã quỳ
1. Lang Biang là vùng đất đẹp tuyệt vời của cao nguyên Lâm Viên. Cái tên thơ mộng ấy bắt đầu từ một mối tình huyền thoại.
Chuyện kể rằng, xưa có chàng trai tên là K’lang (người Lát, một nhánh của dân tộc K’Ho) và người con gái tên là Biang (người Chil, cũng là một nhánh của dân tộc K’Ho). Hai người tình cờ gặp nhau trong một lần lên rừng hái quả. Biang bị một đàn sói tấn công. Chàng K’lang đã dũng cảm cứu nàng, bất chấp sự an nguy của tính mạng. Từ đó họ đem lòng cảm mến nhau. Do lời nguyền giữa hai tộc người mà Biangkhông thể lấy K’lang làm chồng.
Nhưng hai trái tim đã thuộc về nhau, chàng K’lang và nàng Biang đã vượt qua tục lệ khắt khe quyết tâm đến với nhau. Họ trở thành chồng vợ rồi bỏ đến một nơi trên đỉnh núi cao để sinh sống. Một ngày kia Biang bị bệnh, K’lang tìm mọi cách chữa trị nhưng không khỏi. Chàng đành quay về báo cho buôn làng để tìm cách cứu nàng.
Mối tình vượt trên lời nguyền có một kết thúc bi thảm, khi Biang dùng thân mình đỡ mũi tên dân làng bắn chàng K’lang. Đau buồn khôn xiết, K’lang khóc rất nhiều, khóc cho đến chết. Nướcmắt chàng tuôn thành suối lớn, ngày nay gọi là Dankia (suối Vàng). Sau cái chết của hai người, cha Biang rất hối hận, đứng ra thống nhất các bộ tộc thành một dân tộc có tên là K’Ho. Từ đó các đôi nam nữ trong làng dễ dàng đến với nhau. Ngọn núi cao ở làng La Ngư Thượng, nơi chàng K’lang và nàng Biang chết được đặt lên là Lang Biang - tên ghép của đôi trai gái, để tưởng nhớ hai người và một mối tình bất diệt.
Vùng đất Lang Biang là một vùng đất huyền thoại. Cư dân sống ở đây đã vẽ nên những câu chuyện hết sức thi vị. Cùng với huyền thoại mối tình K’lang-Biang, còn có câu chuyện về một loài hoa đặc trưng của nơi này, đó là hoa Dã quỳ. Ngày xưa, có một chàng trai núi rừng yêu tha thiết một cô gái nơi dòng suối. Ngày ngày chàng trai vào rừng săn bắt thú còn nàng mải miết bên khung dệt. Tối đến họ cùng nhau ra chỗ dân làng quây quần đốt lửa múa hát. Cuộc sống bình yên cứ thế trôi đi.
Nhưng vì ghen tức, con trai của tộc trưởng Lasiêng đã cho người bắt cóc và hãm hại chàng trai để chiếm đoạt cô gái. Cô gái quyết cứu cho được người yêu, quyết giữ tấm thân trong sạch dù hơi thở cuối cùng. Nàng ôm lấy thân thể bị trói chặt của người yêu mặc cho những mũi tên, những ngọn giáo đâm vào da thịt. Từ đó, hàng năm vào cữ tháng mười, nơi cô gái chết lại nở ra một loài hoa có màu vàng rực, đó là hoa Dã quỳ, loài hoa hoang dại tượng trưng cho tình yêu sắt son của người con gái.
Kiến trúc truyền thống của người K’Ho
2. Theo tác giả K’Liệp, người K’Ho ở Lang Biang có cuộc sống thuần khiết, tính cộng đồng cao, tới nay vẫn giữ được nhiều tập tục đẹp. Các tổ chức cuộc sống của người K’Ho cũng có nhiều nét riêng khá thú vị, ở đây chỉ kể cách nuôi trâu của bà con.
Nhiều hộ gia đình người K’Ho ở Lạc Dương (Lâm Đồng) đến nay vẫn nuôi trâu bằng cách thả chúng vào rừng, để chúng tự kiếm ăn. Bà Cil Ben là người đã có hơn 50 mùa rẫy làm nghề chăn thả trâu bò vào rừng. Hầu như nhà nào cũng thả, nhưng thật kì lạ là chúng không hề nhập đàn, do đó trâu bò của nhà ai vẫn thuộc về nhà ấy, không bị nhầm lẫn. Đặc biệt, không có việc bị mất trộm. Nói như ông Cil Chiêl thì bà con rất thật thà và trọng chữ tín, không bao giờ trộm của nhau. Tuy rất nhiều trâu bò, nhưng bà con vẫn nhận ra được con nào là của mình, con nào không phải. Để đàn trâu không thành thú hoang, chủ nhà thường cho chúng ăn một ít muối khi rắc len cỏ. Con trâu đầu đàn là quan trọng nhất, khi chủ gọi tên, nó sẽ dẫn cả đàn đến ăn cỏ muối. Lúc bấy giờ, chủ nhà có thể lùa cả đàn trâu về làng nếu muốn.
Chính cách nuôi thả vào rừng này khiến cho đàn trâu, bò của bà con rất to lớn, khỏe mạnh, tuy có phần hung dữ hơn trâu bò nuôi ở nhà. Tuy thế, đó cũng không phải là vấn đề khó khăn vì bà con rất giỏi thuần hóa trâu, bò. Hầu như không có vụ tai nạn nào do trâu, bò gây ra cho con người.
Một con trâu đực ở đây khi trưởng thành nặng chừng 650kg, còn con cái là 550kg. Chúng to hơn hẳn vì 1 con trâu đầm to nhất cũng chỉ nặng 450-500kg.
Làng Cù Lần
Đến Lang Biang người ta còn được biết đến những cuộc đua ngựa mà các kị sĩ chân đất không dùng yên. Họ vẫn có thể ngồi vững vàng trên mình ngựa trong khi chúng chạy với tốc độ rất cao. Người K’Ho cũng nổi tiếng về thuần chủng ngựa và ách chăm sóc ngựa. Những con ngựa bình thường chỉ dùng để kéo xe hàng, nhưng khi vào cuộc đua lập tức trở nên rất mạnh mẽ.
Không những thế, người ta còn ngạc nhiên trước một điểm du lịch mới mang tên một loài thú rừng: làng Cù Lần. Ở đây hội tụ tinh hoa văn hóa của người K’Ho, nổi bật là phong cách kiến trúc, ẩm thực và các điệu dân ca, dân vũ. Người ta cũng không khỏi ngạc nhiên trước một ngôi làng mang tên “làng ca sĩ” của người K’Ho. Theo già làng Krajan Plin, trong máu của những người sinh ra ở buôn này đều thấm chất nhạc, “sau này khi được bồi đắp thêm kỹ thuật sáng tác, chỉ cần thổi hồn vào là ra nhạc thôi”. Buôn Đăng Ya chỉ vài trăm nóc nhà nhưng có đến hàng chục nghệ sĩ, ca sĩ. Người ta bảo rằng, có được điều đó là do người làng uống nước từ dòng suối Dà P’Lah. Thực hư không biết ra sao, nhưng đó cũng là một câu chuyện viết tiếp huyền thoại của Lang Biang thơ mộng.
Khu dự trữ sinh quyển Lang Biang bao gồm một vùng rừng nguyên sinh rộng lớn với vùng lõi là Vườn quốc gia Bidoup - Núi Bà, nơi được đánh giá là một trong 4 trung tâm đa dạng sinh học của Việt Nam. Khu vực này có 153 loài động thực vật nằm trong Sách Đỏ Việt Nam (2007) và 154 loài có tên trong Danh Lục Đỏ IUCN (2010). Cơ quan bảo vệ động vật hoang dã thế giới (WWF) cũng đã xác định nơi đây là khu vực ưu tiên bảo tồn số 1 (Khu vực SA3) trong Chương trình bảo tồn động vật trên các dãy núi Nam Trường Sơn của Việt.