Báo Đại Đoàn Kết Văn hóa

Khẳng định những đóng góp của nữ giới trong bảo tồn văn hóa

Báo Đại Đoàn Kết Tăng kích thước chữ

Khẳng định những đóng góp của nữ giới trong bảo tồn văn hóa

Báo Đại Đoàn Kết trên Google News

Ngày 31/10, tại Hà Nội, Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam phối hợp với Trung tâm Nghiên cứu Nữ giới Phật giáo (Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam) tổ chức Hội thảo khoa học “Nữ giới với bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc”. Hội thảo tập trung làm rõ những đóng góp của nữ giới trong dòng chảy lịch sử, văn hóa dân tộc, đồng thời đề xuất giải pháp phát huy nguồn lực đời sống đương đại.

Đoàn Chủ tọa điều hành Hội thảo khoa học “Nữ giới với bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc”.
Đoàn Chủ tọa điều hành Hội thảo khoa học “Nữ giới với bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc”.

Phát biểu chào mừng hội thảo, Thượng tọa, TS. Thích Giác Hoàng, Ủy viên Hội đồng Quản trị, Phó Viện trưởng, Phó Tổng Thư ký Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam cho rằng, sự hội tụ giữa phương pháp luận nhân học, bảo tàng học hiện đại với chiều sâu tâm linh và đạo lý Phật giáo tại diễn đàn này sẽ tạo ra nguồn năng lượng học thuật mới. Qua đó, góp phần giải mã những khoảng trống trong sử liệu, nhận diện đầy đủ hơn những đóng góp còn ẩn tàng của phụ nữ.

Đặc biệt, hội thảo hướng tới tìm kiếm những phương thức bảo tồn “động”, để di sản văn hóa tiếp tục nuôi dưỡng tâm hồn con người Việt Nam hôm nay và mai sau.

Thượng tọa, TS. Thích Giác Hoàng, Ủy viên Hội đồng Quản trị, Phó Viện trưởng, Phó Tổng Thư ký Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam phát biểu chào mừng hội thảo.
Thượng tọa, TS. Thích Giác Hoàng, Ủy viên Hội đồng Quản trị, Phó Viện trưởng, Phó Tổng Thư ký Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam phát biểu chào mừng hội thảo.

PGS.TS Lê Hải Đăng, Giám đốc Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam kỳ vọng, hội thảo sẽ là điểm khởi đầu cho sự hợp tác lâu dài giữa Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam với Trung tâm Nghiên cứu Nữ giới Phật giáo và các cơ quan nghiên cứu khác.

Theo đó, các bên sẽ phối hợp khảo sát thực địa, kiểm kê di sản, hướng tới hình thành Quỹ Bảo tồn di sản Ni giới, xây dựng kho dữ liệu số mở về di sản ký ức của nữ giới. Cùng với đó là thực thi nghiêm ngặt các chuẩn mực đạo đức nghiên cứu đối với hiện vật thiêng và kết nối với các thiết chế bảo tàng quốc tế, qua đó lan tỏa hình ảnh người phụ nữ Việt Nam tự chủ, nhân văn.

PGS.TS Lê Hải Đăng, Giám đốc Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam phát biểu.
PGS.TS Lê Hải Đăng, Giám đốc Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam phát biểu.

Tại hội thảo, các đại biểu tập trung thảo luận ba chủ đề trọng tâm, gồm: Nữ giới với bảo tồn, truyền thừa các giá trị văn hóa truyền thống và ký ức lịch sử; Nữ giới với phát huy các giá trị văn hóa và định hình bản sắc đương đại; Định hướng phương pháp luận, thiết chế bảo tàng và chính sách phát triển bền vững.

Đề xuất xây dựng kho dữ liệu số về Ni giới Việt Nam, TS. Thích Như Nguyệt – Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Nữ giới Phật giáo (Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam) cho rằng, đây là giải pháp cần thiết nhằm bảo tồn và phát huy bền vững các giá trị di sản của Ni giới.

TS. Thích Như Nguyệt – Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Nữ giới Phật giáo phát biểu.
TS. Thích Như Nguyệt – Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Nữ giới Phật giáo phát biểu.

Theo TS. Thích Như Nguyệt, về phía Giáo hội và các cơ quan đào tạo, cần tiếp tục đẩy mạnh các chương trình nghiên cứu chuyên sâu về lịch sử Ni giới, chính thức đưa nội dung di sản Ni lưu vào giáo trình giảng dạy tại các học viện Phật giáo. Đồng thời, chú trọng quỹ đào tạo kỹ năng truyền thông Phật giáo hiện đại và ngoại giao văn hóa cho thế hệ Ni trẻ, đáp ứng yêu cầu hội nhập.

“Sự kết hợp giữa nhân lực Ni tài, công nghệ tiên tiến và chiến lược bảo tồn chính đáng là chìa khóa vàng để hoa đàn của Ni giới Việt Nam tỏa sáng nguồn di sản, đóng góp xứng đáng vào sự trường tồn của Đạo pháp và sự phồn vinh của dân tộc”, TS. Thích Như Nguyệt nhấn mạnh.

Đối với các cơ quan quản lý nhà nước, đặc biệt là Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, cần có chính sách kiểm kê, công nhận, hỗ trợ tư liệu hóa và số hóa di sản văn hóa phi vật thể gắn liền với chùa Ni và Ni giới. Việc có sự công nhận, hỗ trợ chính thức sẽ tạo cơ sở pháp lý và nguồn lực để Ni giới bảo tồn, gìn giữ những nét đẹp văn hóa của Đạo pháp và dân tộc, góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam giàu bản sắc, đậm tính nhân văn.

PGS.TS Vương Thị Hường - Viện trưởng Viện Nghiên cứu Hán Nôm tham luận tại hội thảo.
PGS.TS Vương Thị Hường - Viện trưởng Viện Nghiên cứu Hán Nôm tham luận tại hội thảo.

Từ góc độ nghiên cứu về vai trò của nữ giới đối với di sản Phật giáo Việt Nam qua văn bia Hán Nôm, PGS.TS Vương Thị Hường - Viện trưởng Viện Nghiên cứu Hán Nôm cho rằng, văn bia Hán Nôm là nguồn tư liệu quan trọng để nghiên cứu lịch sử Phật giáo Việt Nam nói chung và lịch sử cũng như đóng góp của nữ giới nói riêng. Việc nghiên cứu nữ giới xuất gia và những phụ nữ có vai trò chủ trì hoạt động tôn giáo mở ra khả năng mở rộng phạm vi nghiên cứu lịch sử Phật giáo. Đây cũng là cách tiếp cận nhằm làm rõ tính chất cộng đồng của di sản, nhận diện những nguồn lực xã hội đã góp phần duy trì Phật giáo Việt Nam qua nhiều thế hệ và bổ sung cơ sở khoa học cho việc bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa dân tộc trong hiện tại.

Đông đảo các chư tôn đức, nhà khoa học, chuyên gia và đại biểu tham dự Hội thảo  về vai trò của nữ giới trong bảo tồn di sản văn hóa.
Đông đảo các chư tôn đức, nhà khoa học, chuyên gia và đại biểu tham dự Hội thảo về vai trò của nữ giới trong bảo tồn di sản văn hóa.

Thông qua các tham luận và trao đổi khoa học, hội thảo không chỉ góp phần nhận diện những đóng góp của nữ giới trong lịch sử và đời sống văn hóa, tôn giáo mà còn đặt ra yêu cầu xây dựng những phương thức bảo tồn phù hợp với bối cảnh hiện nay. Đáng chú ý, sự phối hợp giữa Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam và Trung tâm Nghiên cứu Nữ giới Phật giáo được kỳ vọng sẽ mở ra các chương trình hợp tác lâu dài, từ khảo sát thực địa, kiểm kê, số hóa ký ức di sản của Ni giới đến tổ chức các hoạt động trưng bày chuyên đề. Qua đó, góp phần bảo tồn những giá trị văn hóa còn ít được biết đến, đồng thời lan tỏa hình ảnh người phụ nữ Việt Nam trí tuệ, nhân ái và giàu bản sắc đến công chúng trong nước và quốc tế.

Phạm Sỹ