Khoa học phụng sự nhân loại
Những ngày cuối năm 2025, GS Đỗ Ngọc Minh có mặt ở Việt Nam để tham gia Tuần lễ Khoa học Công nghệ VinFuture 2025 với vai trò là một thành viên của Hội đồng Sơ khảo Giải thưởng VinFuture. Giữa lịch trình bận rộn, ông đã dành cho Tinh hoa Việt cuộc trò chuyện xung quanh việc phát triển khoa học công nghệ trong kỷ nguyên số, Việt Nam cần làm gì để bắt kịp tốc độ đổi mới và tận dụng hiệu quả nguồn lực tri thức toàn cầu.

Người làm khoa học không ham giàu đâu!
PV: Tròn một năm trước đây, cũng tại sân khấu của VinFuture 2024, giáo sư đã có bài chia sẻ về chủ đề “Ứng dụng AI trong chăm sóc sức khỏe” rất truyền cảm hứng. Đến nay, công việc nghiên cứu của ông đã có những thay đổi như thế nào so với thời điểm đó?
GS Đỗ Ngọc Minh: Hiện nay tôi vẫn đang làm ở hai nơi đó là công tác tại Trường Đại học (ĐH) Illinois ở Urbana-Champaign, Mỹ và Trường ĐH VinUni của Việt Nam. Chúng tôi có một trung tâm nghiên cứu và liên kết giữa hai trường đại học. Những bạn nghiên cứu sinh giỏi sẽ được lựa chọn để đào tạo trong 2 năm đầu ở ĐH VinUni hoặc ĐH Illinois sau đó sang tiếp tục nghiên cứu ở trường kia để có thêm trải nghiệm và cuối cùng sẽ về bảo vệ ở trường mà các bạn sẽ nhận bằng là ĐH VinUni hoặc ĐH Illinois.
ĐH Illinois Urbana-Champaign đứng trong Top 5 của Mỹ về kỹ thuật và có lịch sử lâu đời trong khi VinUni là trường ĐH mới mở nên sẽ tạo điều kiện để Việt Nam có thể học hỏi nhanh. Hiện mỗi trường sẽ chịu trách nhiệm về chương trình đào tạo cũng như bằng tốt nghiệp của học viên mình.
Nhưng chúng tôi đảm bảo với họ rằng sẽ tuyển những sinh viên rất giỏi và không làm giảm chất lượng của chương trình đào tạo. Khi cần tính toán mô phỏng và thử nghiệm lâm sàng, ở VinUni hoàn toàn có thể làm được và nhà trường sẽ đào tạo rất kỹ trước khi đưa sang nước ngoài. Với ưu thế là người Việt Nam, biết vấn đề hiện nay của Việt Nam đang cần là gì, khi các bạn đó sang trung tâm của chúng tôi sẽ có một mạng lưới các giáo sư hỗ trợ để sắp xếp các bạn vào phòng thí nghiệm, vào những nhóm nghiên cứu đúng chuyên ngành mà các bạn theo đuổi để học được những công cụ kỹ thuật, công nghệ, những nghiên cứu để giải quyết đúng vấn đề đó ở Việt Nam.
Trung tâm của tôi được gọi là Sức khỏe thông minh, tập trung vào những bài toán về chăm sóc sức khỏe với góc độ làm sao để giá thành phải rẻ, đông đảo người dân có thể tiếp cận được. Thứ hai là phải rất hiệu quả theo những mô hình tiên tiến của quốc tế hiện nay. Chẳng hạn, chăm sóc sức khoẻ cá thể hóa cần có độ chính xác cao. Người dân sẽ chủ động trong việc chăm sóc sức khỏe của mình, có hệ thống thông minh kết nối với bác sĩ tư vấn khi có vấn đề gì để can thiệp sớm, hiệu quả cao.
Muốn làm nghiên cứu, các bạn Việt Nam sẽ bắt đầu từ môi trường ở Việt Nam bằng cách liên kết với cơ sở y tế, những bệnh viện ở trong nước và cả những nhóm nghiên cứu khác ở trong nước để một lần nữa biết rõ những vấn đề của mình là như thế nào.
Trong chương trình đào tạo tiến sĩ vừa đi vừa về như vậy, người học sẽ được vừa học vừa làm, được tiếp xúc với nền khoa học mới, vừa tìm được cách làm sao để mang những công nghệ tiên tiến đó về Việt Nam.
Hy vọng của chúng tôi đó là những bạn được đào tạo như vậy, khi trở về sẽ không bị bỡ ngỡ với môi trường học thuật cũng như các vấn đề ở trong nước. Các bạn sẽ thành lập được những nhóm nghiên cứu mạnh có kết nối quốc tế ở lĩnh vực mà mình theo đuổi.
GS đang nhắc đến một vấn đề rất thời sự đó là sự bắt nhịp của những du học sinh, nghiên cứu sinh được đào tạo ở nước ngoài nhưng sau khi về Việt Nam lại bỡ ngỡ với môi trường làm việc trong nước cũng như những vấn đề thực tiễn đang đặt ra ở Việt Nam. Ông có thể chia sẻ rõ hơn về câu chuyện này?
Thời gian qua tôi thấy cách làm của Trung Quốc rất khôn ngoan. Để có thể đuổi kịp, thậm chí là vượt các nước phát triển, một trong những cách Trung Quốc đang triển khai đó là tập trung đào tạo con người. Họ có thời gian làm việc trong nước sau đó được gửi sang nước ngoài một thời gian để tiếp cận với những công nghệ tiên tiến của thế giới và mang về áp dụng trên đất nước mình.
Đồng thời Trung Quốc cũng có những chính sách kêu gọi người của họ trở về cống hiến cho tổ quốc rất mạnh mẽ. Những người làm khoa học như chúng tôi ở nước ngoài rất mong muốn có những chính sách mở rộng, tạo điều kiện để đóng góp cho quê hương.
Thời gian gần đây, Việt Nam có rất nhiều chính sách đột phá về phát triển khoa học công nghệ, trong đó một nội dung rất đáng quan tâm là việc thu hút 2.000 giảng viên, chuyên gia giỏi từ nước ngoài đến Việt Nam. Từ kinh nghiệm của mình, ông có đề xuất gì để đạt được mục tiêu này không chỉ về số lượng mà quan trọng hơn là chất lượng?
Đối với nhà khoa học, họ chỉ cần có một môi trường làm việc mà ở đó được tạo điều kiện nghiên cứu, làm được ra sản phẩm, đem lại những ảnh hưởng tốt đẹp cho xã hội. Những ai lựa chọn làm khoa học thường không ham giàu đâu.
Từ trải nghiệm của tôi và trong quá trình làm việc với các giảng viên trẻ, tôi thấy rằng, điều các nhà khoa học mong muốn là được quyền tự do nghiên cứu. Tôi có đam mê khám phá về lĩnh vực này và tôi mong muốn mang được những nghiên cứu, công nghệ mà tôi nắm vững để giúp đỡ loài người.
Bên cạnh đó, những người làm khoa học cũng có gia đình. Họ quan tâm đến môi trường học tập cho con cái, và chăm sóc sức khỏe cho các thành viên trong gia đình. Nhiều người sẵn sàng về làm việc ở trong nước và mức lương, đãi ngộ hiện nay không phải là vấn đề nữa. Nhưng điều họ còn băn khoăn đó là môi trường học tập cho con cái, làm sao để các con được phát triển một cách tốt nhất. Có những người lo lắng về việc học tập áp lực trong nước, không tìm được môi trường học tập phù hợp cho con cái của họ.
Để họ trở về và yên tâm cống hiến lâu dài, tôi cho rằng có hai vấn đề nhà nước cần phải giải quyết. Đó là tạo môi trường để họ có thể giải quyết các bài toán cấp thiết cho tất cả mọi người. Và cần tạo dựng được một hệ sinh thái ổn định để họ có thể tập trung nghiên cứu, phát triển, từ đó lan tỏa và thu hút chuyên gia quốc tế cũng như đội ngũ trí thức Việt Nam ở nước ngoài về làm việc, đóng góp cho sự phát triển của đất nước.
Những trái tim luôn hướng về đất mẹ
Trong thế giới phẳng ngày nay, không nhất thiết chỉ có trở về mới có thể cống hiến cho quê hương. Ngay mô hình hoạt động của Trung tâm Sức khỏe thông minh của ông và các cộng sự tại Mỹ cũng đang làm công việc kết nối, đưa sinh viên, trường ĐH và cơ sở nghiên cứu tại Việt Nam tiếp cận những tiến bộ mới nhất trong y học và công nghệ số.
Đúng vậy. Từ góc độ một nhà khoa học có thời gian chủ yếu làm việc ở nước ngoài, tôi vẫn luôn hướng về tổ quốc. Chúng tôi có những hành động cụ thể như kết nối, đưa sinh viên Việt sang nước ngoài, tạo điều kiện để các bạn tiếp cận với những tiến bộ của khoa học, công nghệ trên thế giới. Trong số đó, chắc chắn sẽ có một bộ phận trở về Việt Nam và có những đóng góp cụ thể cho đất nước.
Song song, tôi thấy rất cần xây dựng một tập thể nghiên cứu mạnh ở trong nước để có thể kết hợp, tận dụng các công nghệ tiên tiến ở nước ngoài mang về để giải quyết các bài toán của Việt Nam.
sau đại học rất tốt. Nhiều bạn có thể lập công ty, tạo ra những công nghệ, dịch
vụ mới.
Hàng năm, ĐH Illinois mời các cựu sinh viên về để chia sẻ về điều gì trong quá trình đào
tạo ở trường giúp tạo ra thành công của họ ngày hôm nay. Phần lớn các bạn đó đều nói rằng chính việc được đào tạo đa ngành, chú trọng các kỹ năng mềm, và học trải nghiệm qua các dự án khiến họ thành công hơn. Chẳng hạn, một sinh viên kỹ thuật nhưng biết cách nói chuyện, biết cách làm việc nhóm với rất nhiều người ở các ngành nghề khác nhau giúp các bạn nhìn rộng hơn chứ không đơn giản chỉ tập trung vào một lĩnh vực duy nhất.
Bên cạnh đó, việc đào tạo cần phải “nhúng mình” vào trong thực tế cuộc sống. Doanh nghiệp cùng tham gia đào tạo với nhà trường để tạo ra nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của thị trường. Giống như học bơi, không thể chỉ học lý thuyết trên bờ mà phải nhảy
xuống nước thì mới có thể biết bơi thực sự” –GS Đỗ Ngọc Minh.
Hiện nay trong nước có rất nhiều bài toán cần tìm lời giải, trong đó bài toán về chăm sóc sức khỏe rất có ý nghĩa, tác động tới nhiều người nên chúng tôi rất quan tâm. Làm sao để làm tốt và có hiệu quả, vừa với thu nhập của người dân và phù hợp với môi trường Việt Nam là bài toán đặt ra cho các nhà khoa học.
Thực tế ở những nước phát triển họ đã giải được rất nhiều bài toán nhưng khi mang về Việt Nam thì cần tính đến chi phí sao cho phù hợp với người Việt Nam là một vấn đề lớn. Ví dụ, ở nước ngoài, chi phí bảo hiểm sức khoẻ có thể lên tới 30% lương, trong khi ở Việt Nam thì chỉ có thể lên đến 6%. Rõ ràng, khi đó công nghệ mình sử dụng và mô hình chăm sóc sức khoẻ cần phải hiệu quả hơn.
Thậm chí, tôi tin rằng có những cái, có cơ hội mình có thể làm tốt hơn nước ngoài.
Ông có thể chia sẻ rõ hơn về điều này?
Tôi đã sống ở bên Mỹ và thấy rằng ở Mỹ họ đổ rất nhiều tiền vào nghiên cứu. Tuy nhiên, họ có những nhóm lợi ích và ít khi họ chia sẻ thông tin với nhau, làm chậm việc ứng dụng công nghệ mới, khiến cho chi phí chữa bệnh sẽ bị đội giá lên nhiều lần.
Khi mình đã có công nghệ, cần phải nghiên cứu triển khai như thế nào và cuối cùng là nghiên cứu đó phải đi vào cuộc sống thì mới giúp ích được cho nhiều người dân Việt. Bên cạnh vai trò của Nhà nước về mặt chính sách, đầu tư thì các nhà khoa học cần phải kết hợp với doanh nghiệp. Phải biết doanh nghiệp cần gì và mình chia sẻ những công nghệ mới để giải quyết các bài toán của Việt Nam. Cần cả các cơ sở trong nước và liên kết với những các nhóm nghiên cứu ở nước ngoài, người Việt Nam đang làm việc ở nước ngoài để cùng phối hợp.
Chẳng hạn trước đây ở Việt Nam rất ít gia đình có điện thoại bàn. Việc liên lạc còn nhiều hạn chế, chi phí cao và phụ thuộc vào hạ tầng cồng kềnh. Thế nhưng chỉ sau một thời gian ngắn, khi smartphone bắt đầu phổ cập, thiết bị này đã nhanh chóng phủ sóng khắp cả nước. Không chỉ tiện lợi hơn, smartphone còn mang lại hiệu quả vượt trội với chi phí rẻ hơn rất nhiều so với các phương thức liên lạc cũ.
Sự chuyển đổi ấy cho thấy khi công nghệ đủ tiên tiến, dễ tiếp cận và phù hợp với nhu cầu thực tế, nó sẽ tự nhiên lan tỏa trong cộng đồng. Đó cũng là minh chứng rõ ràng cho khả năng thay đổi toàn diện đời sống của những giải pháp công nghệ phù hợp, mở đường cho các mô hình mới trong giáo dục, y tế và dịch vụ công ngày nay.
Từ bài học phủ sóng của smartphone, tôi cho rằng dù là những người đi sau nhưng nếu chúng ta biết được các công nghệ hiện nay đang như thế nào, biết được tiềm năng ứng dụng của nó để giải quyết được các bài toán ở Việt Nam ra sao, biết được nhu cầu của mình như thế nào thì hoàn toàn có thể khai thác và triển khai hiệu quả.
Làm khoa học với mục đích hướng thiện sẽ luôn có động lực cố gắng
Thống kê từ nhiều tổ chức nghiên cứu quốc tế cho thấy các nhà khoa học trên toàn cầu đang phải đối mặt với cường độ công việc cao hơn, yêu cầu công bố quốc tế khắt khe hơn và tốc độ đổi mới công nghệ nhanh chưa từng có. Là một nhà khoa học, ông có cảm thấy những áp lực này?
Tôi tin rằng không chỉ riêng tôi mà tất cả những người làm khoa học luôn luôn có một áp lực đó là mình phải làm cái gì mới trong cộng đồng khoa học của mình.
Hàng năm chúng tôi tham gia các hội nghị, viết bài báo khoa học, ai cũng nhìn vào xem mình có cái gì mới hay không? Nói vui là giống như một ca sĩ, nếu lâu lâu không có một sản phẩm âm nhạc mới thì chắc chắn sẽ cảm thấy rất áp lực.
Liên tục phải làm mới là động lực sẵn có đối với tất cả các nhà khoa học.
Bên cạnh đó, yêu cầu đối với các nhà khoa học ngày càng cao. Có thể trước đây yêu cầu đăng các tạp chí trong nước thôi nhưng ngày nay, phải đăng các bài báo ở tạp chí quốc tế có chất lượng cao hơn. Thậm chí, không chỉ dừng lại ở bài báo mà phải đưa các công trình nghiên cứu đó ứng dụng vào cuộc sống.
Áp lực là cần thiết và sẵn có nhưng tôi cho rằng nếu áp lực quá thì sẽ gây ra những hệ lụy. Tôi để ý thấy trong khoa học về AI là ngành hiện nay ở Trung Quốc, Mỹ, châu Âu đang phát triển rất mạnh, cuộc cạnh tranh rất căng thẳng. Trong đó, ở Trung Quốc đang gặp phải một vấn đề đó là áp lực phải viết rất nhiều bài báo. Nếu chỉ dựa vào KPI con số một cách thuần túy, chạy theo số lượng thì khó để đảm bảo về chất. Khi suy nghĩ về số lượng áp đảo yêu cầu về chất lượng thì rất dễ làm méo mó khoa học.
Quỹ VinFuture được thành lập với một triết lý rất rõ ràng: khoa học chỉ thật sự có ý nghĩa khi phục vụ con người và góp phần cải thiện cuộc sống của toàn nhân loại. Làm khoa học không phải chỉ để nổi danh cho cá nhân mình, cho ngôi trường mình giảng dạy, cộng tác mà phải đóng góp thực chất cho nhân loại.
Ai sẽ là người được thụ hưởng kết quả nghiên cứu khoa học đó?
Đó là người dân, là người thân của mình và toàn thể cộng đồng. Thúc đẩy khoa học và công nghệ phục vụ nhân loại một cách có trách nhiệm, kêu gọi hành động chung để xây dựng tương lai công nghệ thông minh bảo vệ phẩm giá con người, thúc đẩy niềm tin và thế giới an bình hơn là sứ mệnh VinFuture kiên định thực hiện.
Khoa học phụng sự nhân loại là điều mà các nhà khoa học chân chính đều muốn theo đuổi. Nhưng thực tế nghiên cứu không phải lúc nào cũng thành công, thậm chí sau hàng chục năm vẫn “dậm chân tại chỗ”. Công nghệ lại liên tục thay đổi, rất có thể vấn đề anh đang nghiên cứu hôm nay, ngày mai đã trở nên lạc hậu rồi - thưa ông?
Với khoa học, không thể hôm nay có ý tưởng và một vài ngày sau ra ngay được kết quả mà phải mất một thời gian thử nghiệm, có thể là hàng trăm cái mới có một, hai phương án thành công đã là rất may mắn rồi. Thậm chí phải chấp nhận kết quả không có ý tưởng nào thành công nhưng không vì thế mà nản lòng. Làm khoa học phải biết chấp nhận mạo hiểm mới có thành công.
Trong quá trình đi tìm lời giải cho các bài toán thực tiễn, sẽ có nhiều người cũng quan tâm đến lĩnh vực đó và khi nhiều người cùng làm, một lúc nào đó công nghệ sẽ được tạo ra giúp nâng cao chất lượng cuộc sống. Có người thành công thì sẽ có người thất bại. Làm nghiên cứu chỉ để làm đẹp hồ sơ của mình lên thì khi thất bại hẳn sẽ rất nản. Nhưng nếu làm với mục đích hướng thiện, làm để giúp cho người dân có cuộc sống tốt đẹp hơn thì sẽ luôn có động lực, đam mê để theo đuổi công việc.
Trân trọng cảm ơn giáo sư!
Quỹ VinFuture được thành lập với một triết lý rất rõ ràng: khoa học chỉ thật sự có ý nghĩa khi phục vụ con người và góp phần cải thiện cuộc sống của toàn nhân loại.
Box2
Box 3
Ông nhận Bằng Cử nhân ngành Kỹ thuật Máy tính tại ĐH Canberra, Úc, vào năm 1997, và Bằng Tiến sĩ Khoa học ngành Hệ thống Truyền thông tin tại Học viện Kỹ thuật Lausanne Thụy Sĩ (EPFL) năm 2001.
Ông quan niệm rằng nhà nghiên cứu hiện đại cần phải có kiến thức đa ngành và liên kết tri thức từ nhiều lĩnh vực khác nhau để tạo ra nhiều ý tưởng mới. Với triết lý này, ông đã đóng góp đáng kể trong việc chuyển giao công nghệ. Ông đã từng là Giám đốc Công nghệ (CTO) của Personify, lãnh đạo khoa học của Misfit và là thành viên danh dự Hội Kỹ sư Điện và Điện tử (IEEE Fellow).
Ngoài 95 bài báo và 150 bài tham luận tại các hội nghị quốc tế, ông đã được trao nhiều giải thưởng danh giá, bao gồm Giải thưởng Tiến sĩ xuất sắc nhất của EPFL năm 2001, Giải thưởng CAREER của Quỹ nghiên cứu khoa học quốc gia Hoa Kỳ (NSF), Công trình nghiên cứu xuất sắc nhất tại Hội nghị quốc tế IEEE về xử lý ảnh.
Ông nhận Bằng Cử nhân ngành Kỹ thuật Máy tính tại ĐH Canberra, Úc, vào năm 1997, và Bằng Tiến sĩ Khoa học ngành Hệ thống Truyền thông tin tại Học viện Kỹ thuật Lausanne Thụy Sĩ (EPFL) năm 2001.
Ông quan niệm rằng nhà nghiên cứu hiện đại cần phải có kiến thức đa ngành và liên kết tri thức từ nhiều lĩnh vực khác nhau để tạo ra nhiều ý tưởng mới. Với triết lý này, ông đã đóng góp đáng kể trong việc chuyển giao công nghệ. Ông đã từng là Giám đốc Công nghệ (CTO) của Personify, lãnh đạo khoa học của Misfit và là thành viên danh dự Hội Kỹ sư Điện và Điện tử (IEEE Fellow).
Ngoài 95 bài báo và 150 bài tham luận tại các hội nghị quốc tế, ông đã được trao nhiều giải thưởng danh giá, bao gồm Giải thưởng Tiến sĩ xuất sắc nhất của EPFL năm 2001, Giải thưởng CAREER của Quỹ nghiên cứu khoa học quốc gia Hoa Kỳ (NSF), Công trình nghiên cứu xuất sắc nhất tại Hội nghị quốc tế IEEE về xử lý ảnh.
Ông là một trong những nhà khoa học Việt Nam có mặt trong bảng xếp hạng toàn cầu các nhà khoa học có tầm ảnh hưởng nhất thế giới năm 2025, do nhóm nghiên cứu tại Đại học Stanford công bố, dựa trên dữ liệu từ Scopus.