Báo Đại Đoàn Kết Kinh tế

Không thể đợi nước đến chân...

Báo Đại Đoàn Kết Tăng kích thước chữ

Không thể đợi nước đến chân...

Báo Đại Đoàn Kết trên Google News

Nền kinh tế rộng cửa, làn sóng hàng ngoại  tràn vào. Công cụ phòng vệ thương mại là lá chắn mà các doanh nghiệp trong nước buộc phải có để có thể bảo vệ trước hàng ngoại. Tuy nhiên, các chuyên gia, giới luật sư cũng bày tỏ sự lo ngại khi phần lớn doanh nghiệp chưa đủ năng lực, thậm chí không quan tâm đến “tấm lá chắn” này. 

TS Đinh Thị Mỹ Loan - nguyên Cục trưởng Cục Quản lý cạnh tranh (Bộ Công thương):

DN chưa chủ động

Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam ngày càng đi vào chiều sâu thông qua việc đàm phán, ký kết các Hiệp định thương mại tự do (FTAs) với các đối tác lớn, đặc biệt là việc Việt Nam tham gia cộng đồng kinh tế ASEAN và hoàn tất đàm phán TPP…

Hàng loạt các FTAs được ký kết, Việt Nam sẽ mở rộng cánh cửa để hàng hóa nước ngoài vào thị trường trong nước, cũng đồng nghĩa, hàng rào thuế quan sẽ được cắt giảm. Đó vừa là cơ hội song cũng là thách thức, rào cản lớn đối với cộng đồng DN.

Dù không còn sớm, nhưng cũng chưa muộn, các DN Việt Nam cần chủ động hơn trong việc coi các công cụ phòng vệ thương mại là tấm rào chắn bảo vệ “sức khỏe” chính mình.

Mặc dù Việt Nam đã có những thành công nhất định trong việc sử dụng các công cụ phòng vệ thương mại, song việc các DN sử dụng các công cụ đó từ WTO để bảo vệ môi trường kinh doanh, cạnh tranh lành mạnh công bằng của hàng hóa nước ngoài tại Việt Nam còn nhiều bất cập, chưa thực sự phát huy được hiệu quả.

Thực trạng sử dụng công cụ phòng vệ thương mại của các DN Việt Nam hiện nay còn rất nhiều vấn đề cần phải xem lại. Hiểu biết của các DN đối với các công cụ này còn rất hạn chế, các DN Việt Nam vẫn chưa chủ động tìm đến những công cụ phòng vệ thương mại.

TS Nguyễn Thị Thu Trang - Giám đốc Trung tâm WTO và Hội nhập (VCCI):

Năng lực yếu, doanh nghiệp khó theo kiện đến cùng

Việc Việt Nam hiện đang tham gia các Hiệp định thương mại tự do, hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, hàng rào thuế quan hầu như được rỡ bỏ. Điều này dẫn đến những nguy cơ hàng hóa ngoại nhập ồ ạt tràn vào trong nước, thậm chí, nhiều hàng hóa nước ngoài cạnh tranh không lành mạnh cũng sẽ xuất hiện ngày một nhiều tại thị trường Việt Nam.

Công cụ phòng vệ thương mại là một trong những “vũ khí” cần thiết, tối ưu để các DN Việt có thể sử dụng như tấm lá chắn bảo vệ các sản phẩm của mình trước những nguy cơ nói trên. Ngay từ khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), chúng tôi đã rất mong muốn các DN cần phải tính đến những công cụ này.

Tuy nhiên, kết quả điều tra mới nhất của Trung tâm WTO & Hội nhập đã cho thấy, DN Việt Nam hiện nay còn rất nhiều điểm vướng mắc để có thể sử dụng được các công cụ phòng vệ thương mại. Vướng nhất hiện nay của DN là năng lực sử dụng công cụ phòng vệ thương mại, tức là họ biết về các công cụ này nhưng lại không có cách nào để sử dụng công cụ đó một cách hiệu quả.

Thực trạng thiếu và yếu cả nguồn nhân lực, khả năng tài chính cũng như khả năng tiếp cận thông tin… khiến cho ít có DN nào có thể theo đến cùng một vụ kiện.

Tôi cho rằng, chúng ta cần phải nhìn nhận rõ những điểm bất cập của chính mình hiện nay để có giải pháp khắc phục cụ thể, có lời giải cho từng điểm nghẽn một để DN có thể chủ động hơn trong việc sử dụng các biện pháp tự vệ trước làn sóng ngoại nhập đang ngày càng mạnh mẽ.

Đơn cử như nếu DN không có thông tin thì sẽ khó có giải pháp. Tuy nhiên, ở góc độ DN, mỗi DN cần phải chủ động hơn trong việc tìm kiếm thông tin. Thông tin ở Việt Nam không thiếu, nhưng DN có quan tâm tìm kiếm hay không, có tìm hiểu các công cụ phòng vệ thương mại một cách cụ thể, nghiên cứu kỹ các phương pháp phòng vệ hay không để tích lũy cho mình những kiến thức cơ bản, chủ động đối phó. Còn ở góc độ Nhà nước, các Hiệp hội, các tổ chức hỗ trợ như VCCI..., phải có trách nhiệm cung cấp thông tin cho các DN.

Có một vấn đề hiện nay là, các thông tin chung về các biện pháp phòng vệ là có nhưng những thông tin cụ thể liên quan đến từng ngành hàng, hoặc những thông tin về xuất nhập khẩu hàng hóa, giá cả, tình trạng sản xuất của từng ngành… lại do cơ quan nhà nước nắm giữ khiến DN khó có cách để tiếp cận thông tin như vậy. Điều này vô hình trung làm khó cho DN khi muốn tìm hiểu thông tin liên quan đến những lĩnh vực, vấn đề mà họ cần.

Tôi cho rằng, cần có một cơ chế thay đổi trong việc công khai thông tin từ các cơ quan nhà nước để tạo điều kiện hơn cho cộng đồng DN trong việc nắm bắt, tiếp cận những thông tin cần thiết cho mình.

Còn những khúc mắc khác của DN như vấn đề về nguồn nhân lực, về khả năng tài chính… các DN đều nên có sự chuẩn bị kỹ càng. Lâu nay, các DN Việt Nam chỉ tính đến sử dụng công cụ phòng vệ thương mại khi có sự vụ xảy ra, điều này đối ngược hẳn với các DN nước ngoài.

Với DN nước ngoài họ nắm rất rõ các công cụ, vũ khí phòng vệ có thể làm tấm bình phong che chở cho họ, nó được coi là một trong những chiến lược kinh doanh. Còn ở Việt Nam thì không.

Với xu thế hội nhập ngày càng sâu rộng vào sân chơi toàn cầu hóa, tôi cho rằng, đã đến lúc các DN Việt Nam phải nhận diện lại, coi công cụ phòng vệ thương mại là một trong những chiến lược kinh doanh của mình.

Luật sư Phạm Lê Vinh - Công ty Luật ATIM, Đoàn Luật sư Hà Nội:

Phải có chiến lược kinh doanh bài bản

Một trong những điểm yếu của các DN Việt Nam hiện nay đó là tính liên kết, tính tập thể, tập hợp lực lượng giữa các DN không cao. Đối với mỗi sự vụ liên quan đến các vụ kiện chống bán phá giá, chống trợ cấp, sự rời rạc, manh mún, tính thiếu liên kết đó sẽ trở thành rào cản lớn, vì nếu không thể tập hợp lực lượng, DN Việt Nam khó có thể thành công nếu phải đối diện với các vụ kiện phòng vệ thương mại.

Thứ nữa là điểm yếu về tài chính. Chúng ta đã biết, chi phí theo một vụ kiện là rất lớn, ngoài chi phí cho dịch vụ luật sư trong nước, còn phải chi phí phát sinh cho dịch vụ bên ngoài, chi phí khi phải theo kiện tại nước sở tại- quốc gia có DN bị phía chúng ta khởi kiện- đó là phần phải chi phí lớn hơn rất nhiều.

Tôi đã từng theo một vụ kiện của một DN trong nước, với kinh nghiệm có được, tôi cho rằng, công tác chuẩn bị tốt của một DN về nguồn lực, về tài chính, về khả năng tập hợp thông tin sẽ đem đến khả năng thành công lớn hơn rất nhiều đối với những DN yếu về mọi yếu tố nói trên.

Bên cạnh đó, vai trò của truyền thông, báo chí cũng rất quan trọng. Bởi, tiếng nói của cơ quan báo chí đáp ứng được nhu cầu thông tin của DN một cách kịp thời nhất, song mặt khác thông tin đó phải chính xác, có tính chất hỗ trợ cho DN. Do đó, bản thân cơ quan báo chí cũng sẽ phải nâng cao hiểu biết về lĩnh vực này.

Ngay cả các Hiệp hội, cơ quan quản lý nhà nước cũng cần phải có sự phối hợp với các DN trong việc cung cấp thông tin đầy đủ để DN có thể chủ động ứng phó. Nói cho cùng, sự chủ động của DN, sự phối hợp, tạo điều kiện về mặt thông tin, hỗ trợ chính sách của cơ quan nhà nước và khả năng truyền thông chính xác, kịp thời của báo chí sẽ hội tụ đầy đủ các yếu tố để DN có thể thành công khi tham gia một vụ kiện phòng vệ thương mại, bảo vệ hàng hóa sản phẩm của mình trước sự xâm nhập, cạnh tranh không lành mạnh của hàng hóa nước ngoài.

Song, thực tế lâu nay, các DN Việt Nam nói chung thường chỉ hay chạy theo xử lý sự vụ khi có sự cố xảy ra chứ không có một chiến lược bài bản để đối phó với các tình huống về mặt lâu dài. Đây chính là một trong những điểm bất cập hiện nay của cộng đồng DN trong nước.

Tôi cho rằng, dứt khoát, lối tư duy, cung cách làm việc như vậy phải thay đổi trong thời kỳ hội nhập hiện nay. Hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng buộc các DN của chúng ta phải thích nghi, phải có chiến thuật kinh doanh bài bản hơn, còn nếu cứ theo lối “nước đến chân mới nhảy” như hiện nay thì sẽ gục ngã.

Duy Phương (thực hiện)