Báo Đại Đoàn Kết Chính trị

Không thể vừa gây rối vừa la làng

Báo Đại Đoàn Kết Tăng kích thước chữ

Không thể vừa gây rối vừa la làng

Báo Đại Đoàn Kết trên Google News

Trong bài viếtđăng trên tờ Matichon ngày 23/6/2014, Đại sứ Trung Quốc tại Thái Lan Ninh PhúKhôi (Ning Fuikui) đã hoàn toàn đúng khi chỉ ra rằng dư luận quốc tế đang hết sứcthất vọng trước những hành động sai trái gần đây của Trung Quốc như đơn phương hạđặt trái phép giàn khoan trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của ViệtNam, chủ ý đâm va, làm chìm tàu Việt Nam đang hoạt động bình thường trong vùngbiển của mình.

Không thể vừa gây rối vừa la làng

Tuynhiên, để biện minh cho những hành động hoàn toàn sai trái của phía Trung Quốc,Đại sứ Ninh đã không ngần ngại xuyên tạc, bịa đặt và đổ lỗi cho Việt Nam nhằm bópméo sự thật. Vậy những sự thật nào đang được Đại sứ Ninh cố gắng che giấu?

Quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam,không phải của Trung Quốc

Việt Nam có đầy đủbằng chứng lịch sử và pháp lý để khẳng định chủ quyền của mình đối với Hoàng Savà Trường Sa. Việt Nam là quốc gia đầu tiên đã chiếm hữu và thực thi chủ quyềnmột cách liên tục và hòa bình tại hai quần đảo này. Ít nhất kể từ thế kỷ 17,khi mà vùng lãnh thổ này còn vô chủ, các chúa Nguyễn của Việt Nam đã thành lập nhữngđội dân binh, gọi là đội Hoàng Sa, để cai quản và khai thác quần đảo Hoàng Sa. ĐộiHoàng Sa này có nhiệm vụ hàng năm tới quần đảo Hoàng Sa để khai thác sản vật, đođạc, trồng cây, dựng bia, xây dựng chùa chiền, cứu hộ tàu thuyền…. Tất cả nhữnghoạt động này đều được ghi lại trong các tài liệu chính thức.

Trong khi đó,Trung Quốc đã phủ nhận ý định thiết lập chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa khivào năm 1898, sau sự kiện tàu Bellona và HimejiMaru đắm tại Hoàng Sa bị ngư dân Trung Quốc cướp tài sản, Phó vương Quảng Đôngđã tuyên bố quần đảo Hoàng Sa là vùng đất vô chủ, không thuộc về Trung Quốc,không có liên quan gì về mặt hành chính đối với bất cứ quận nào của Hải Nam vàkhông cơ quan nào có trách nhiệm kiểm soát khu vực này.

Mặt khác, nhiềutài liệu của Trung Quốc, như Hải ngoại Kỷ sự (Haiwai jishi) năm 1696 hay Hải Lục(Hailu) năm 1820 đã công nhận quần đảo Hoàng Sa thuộc về Việt Nam.

Các Hội nghị Caironăm 1943 và Potsdam năm 1945 mà Trung Quốc làmột bên tham dự đã yêu cầu Nhật Bản phải trả lại các đảo trong Thái Bình Dươngđã cưỡng chiếm trong Chiến tranh Thế giới thứ 2. Theo đó, các lãnh thổ Nhật Bảnphải trả Trung Quốc là Mãn Châu, Đài Loan và Bành Hồ, không có Hoàng Sa và TrườngSa. Không có bất cứtài liệu quốc tế liên quan nào ghi rằng Trung Quốc giành lại Hoàng Sa từ Nhật Bảnnăm 1946, như luận điệu của Đại sứ Ninh.

Đặc biệt,tại Hội nghị San Francisco năm 1951, đề xuất yêu cầu Nhật Bản nhìn nhận chủ quyềncủa Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đối với quần đảo Hoàng Sa đã bị bác bỏ với 46phiếu chống. Cũng tại Hội nghị này, Trưởng đoàn Việt Nam, Thủ tướng Trần Văn Hữuđã tái khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa và Trường Sa mà khônggặp phải bất kỳ phản đối nào của 51 nước tham dự.

Năm 1956, Trung Quốc đã sử dụng vũ lực đánh chiếmkhu vực phía Đông và năm 1974, chiếm khu vực phía Tây quần đảo Hoàng Sa của ViệtNam. Hành độngnày đã vi phạm nguyên tắc cấm sử dụng vũ lực chống lại sự toàn vẹn lãnh thổ củamột quốc gia khác, một nguyên tắc mang tính mệnh lệnh của luật pháp quốc tế. Hànhđộng xâm lược này cũng như tất cả những hành động sai trái khác của phía TrungQuốc nhằm xâm phạm quần đảo Hoàng Sa vẫn luôn bị phía Việt Nam lên án một cáchmạnh mẽ.

Việc Đạisứ Ninh cố ý úp mở về một số tài liệu của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòatrước năm 1974 để nói Việt Nam đã công nhận chủ quyền của Trung Quốc đối vớiHoàng Sa là hành động xuyên tạc lịch sử. Theo Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954, ViệtNam Dân chủ Cộng hòa được giao quản lý phần lãnh thổ miền Bắc Việt Nam từ vĩtuyến 17 trở ra, không bao gồm hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Là một bên thamgia Hội nghị Giơ-ne-vơ, hiển nhiên là Trung Quốc đã biết rất rõ điều này.

Trung Quốc xâm phạm quyền chủ quyền,quyền tài phán của Việt Nam

Mặc dù đã cố ý đánhlạc hướng dư luận sang vấn đề chủ quyền, Đại sứ Ninh cũng không thể làm thay đổiđược một sự thật khác. Đó là, dù cho diễn giải theo bất cứ cách nào thì giànkhoan của Trung Quốc vẫn hoàn toàn nằm trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lụcđịa của Việt Nam. Nếu Đại sứ Ninh chịu khó bỏ chút thời gian ra đọc một số tàiliệu cơ bản về luật biển thì sẽ biết là cả cái gọi là "vùng biển 17 hải lý” củabãi đá Tri Tôn lẫn "đường cơ sở quần đảo Hoàng Sa” mà Trung Quốc vẽ ra đều đingược lại Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982.

Vì thế, với việcđơn phương hạ đặt trái phép giàn khoan tại khu vực có vị trí nằm sâu trong vùngđặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam từ 60-80 hải lý, Trung Quốc đãvi phạm quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam. Trước sau như một, ViệtNam kiên quyết phản đối những hành động xâm phạm tới vùng đặc quyền kinh tế vàthềm lục địa của mình. Chính Đại sứ Ninh đã thú nhận là Trung Quốc đã nhiều lầnxâm phạm các vùng biển của Việt Nam này để tiến hành đơn phương khảo sát. Nhữnglần như vậy, Việt Nam đã đưa tàu thực thi pháp luật tới cảnh báo, xua đuổi các tàuvà giàn khoan Trung Quốc hoạt động bất hợp pháp, đồng thời gửi công hàm ngoạigiao phản đối. Tất cả những sự việc này đã được ghi lại một cách hết sức rõràng.

Đại sứ Ninh cũng tựcho phép mình đưa ra những lời vu cáo không dựa trên bất cứ bằng cớ nào. ÔngNinh lớn tiếng nói rằng Việt Nam cử người nhái đến khu vực hạ đặt giàn khoan, rằngtàu Việt Nam đã đâm tàu Trung Quốc 1416 lần, nhưng cả ông Đại sứ lẫn chính quyềnTrung Quốc đều không thể đưa ra bất kỳ bằng chứng nào chứng minh cho những tuyênbố sai trái nói trên. Trái lại, theo những băng ghi hình mà Việt Nam công bốcũng như theo những gì các phóng viên quốc tế ghi lại tại hiện trường thì sự thậthoàn toàn ngược lại. Chính Trung Quốc đã sử dụng một lực lượng hùng hậu tàu bè cácloại, có lúc lên tới gần 140 chiếc, trong đó có cả những tàu quân sự hiện đại,trang bị vũ khí đầy đủ để hộ tống giàn khoan Hải Dương - 981 hoạt động tráiphép trong vùng biển Việt Nam. Tàu Trung Quốc đã cố tình đâm va, phun vòi rồngvào các tàu dân sự Việt Nam, gây thương tích cho hàng chục cán bộ kiểm ngư vàngư dân, gây hư hại nhiều tàu thực thi pháp luật của Việt Nam và thậm chí đâmchìm một cách dã man tàu cá của Việt Nam.

Thật là nực cườikhi Đại sứ Ninh nhắc tới "một lượng lớn chướng ngại vật, trong đó có lưới đánhcá và các vật trôi nổi” trên biển để công kích Việt Nam. Đó không là gì khác ngoàinhững bộ phận, vật dụng rơi ra từ tàu Việt Nam sau khi bị tàu Trung Quốc tấncông và đây cũng chính là những bằng chứng rất rõ ràng về sự hung hãn của tàuTrung Quốc.

Tất cả bằng chứngvề sự hiếu chiến và vô nhân đạo của tàu Trung Quốc đều đã được công bố một cáchrộng rãi. Các bạn Thái cũng có thể tham khảo những hãng thông tấn có trụ sở tạiThái Lan đã cử phóng viên ra hiện trường để biết thêm chi tiết.

Xuấtphát từ sự bức xúc, phẫn nộ trước những hành động phi pháp, vô nhân đạo củaTrung Quốc và để bày tỏ lòng yêu nước, người dân Việt Nam đã tuần hành phản đốitự phát. Một số người đã lợi dụng lòng yêu nước của người dân Việt Nam, có cáchành vi kích động, phi pháp, gây ảnh hưởng ngoài ý muốn đối với một số côngnhân Trung Quốc và nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Ngay lập tức, Chính phủViệt Nam đã triển khai quyết liệt một loạt các biện pháp như bắt giữ, xử lý nhữngkẻ gây rối, đảm bảo an ninh, đồng thời hỗ trợ cho các doanh nghiệp bị thiệt hại.Cho đến nay, tình hình đã hoàn toàn ổn định, các doanh nghiệp nước ngoài đãquay trở lại sản xuất bình thường. Cộng đồng doanh nghiệp nước ngoài đánh giá rấtcao những nỗ lực vừa qua của Chính phủ Việt Nam. Vậy mà, Đại sứ Ninh vẫn khôngngừng đổ lỗi cho Chính phủ Việt Nam, cố tình rêu rao, bóp méo sự thật. Và trướckhi vội vàng chỉ trích Chính phủ Việt Nam, phải chăng Đại sứ Ninh nên tự hỏi chínhquyền Trung Quốc đã có chính sách gì với các doanh nghiệp Nhật Bản bị thiệt hạitương tự do những vụ bạo động chống Nhật Bản tại Trung Quốc 2 năm về trước.

Trung Quốc phớt lờ thiện chí của Việt Nam để giảiquyết vấn đề thông qua đối thoại và các biện pháp hòa bình khác

Ngay từ ngày đầutiên Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương - 981, Việt Nam đã nỗ lựcchủ động đề xuất tiếp xúc, trao đổi, yêu cầu Trung Quốc dừng các hành động viphạm quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam, tiến hành đàm phán songphương thực chất để giải quyết các vấn đề trên biển giữa hai nước. Cho tới nay,Việt Nam đã tiến hành hơn 30 cuộc trao đổi với phía Trung Quốc ở tất cả các cấp,gần đây nhất Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh đã mời Ủy viênQuốc vụ Trung Quốc Dương Khiết Trì tới Hà Nội để trao đổi. Tuy nhiên, cho đếnnay, phía Trung Quốc vẫn kiên quyết từ chối rút giàn khoan và đàm phán thực chấtvới Việt Nam để ổn định tình hình.

Tôi hoàn toàn đồngý với Đại sứ Ninh khi cho rằng một quốc gia nên biết trọng lời hứa của mình và khẩnthiết kêu gọi Trung Quốc tôn trọng lời hứa của Phó Thủ tướng Đặng Tiểu Bình vớiBí thư Thứ nhất Đảng Cộng sản Việt Nam hồi tháng 9 năm 1975 là giải quyết nhữngbất đồng giữa hai nước đối với quần đảo Hoàng Sa thông qua hiệp thương hữu nghị,cũng như kêu gọi Chính phủ Trung Quốc tôn trọng tất cả những cam kết liên quantới việc giải quyết vấn đề trên biển giữa hai nước.

Việt Nam luôn tôn trọng luật pháp quốc tế, nỗ lựcvì hòa bình, ổn định và phát triển ở Vịnh Thái Lan và Biển Đông.

Việt Nam luôn tôntrọng luật pháp quốc tế, nỗ lực vì hòa bình, ổn định và phát triển ở Vịnh TháiLan nói riêng và ở Biển Đông nói chung bằng hành động cụ thể. Năm 1997, ViệtNam đã ký kết với Thái Lan Hiệp định phân định Vịnh Thái Lan. Đây là Hiệp định phânđịnh biên giới biển đầu tiên tại Đông Nam Á sau khi Công ước Liên hợp quốc vềLuật Biển năm 1982 có hiệu lực và cũng là Hiệp định phân định biển đầu tiên ở VịnhThái Lan. Chính phủ hai nước Việt Nam và Thái Lan triển khai nhiều hoạt động hợptác hiệu quả nhằm bảo đảm an ninh hàng hải và bảo vệ tài nguyên sinh vật biển tạikhu vực này, tiến hành hoạt động tuần tra chung.

Việt Nam cũng đãký kết các hiệp định phân định biên giới biển với nhiều quốc gia khác trong VịnhThái Lan và trên biển Đông, trong đó có Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ vớiTrung Quốc năm 2000, hiệp định phân định biên giới biển đầu tiên của Trung Quốc.Việt Nam cũng triển khai nhiều sáng kiến hợp tác song phương và đa phương quantrọng trên biển Đông trên cơ sở tôn trọng lẫn nhau, các bên cùng có lợi trongcác lĩnh vực nghiên cứu khoa học, quản lý và bảo vệ nguồn lợi thủy sản, thăm dòkhai thác dầu khí. Đặcbiệt, ngay trước khi Trung Quốc đơn phương tiến hành khoan thăm dò, Việt Nam vàTrung Quốc đã thành lập nhóm thảo luận hợp tác cùng phát triển trên biển.

Kiên địnhchủ trương tôn trọng luật pháp quốc tế, hòa bình, ổn định và phát triển ở khu vực,Việt Nam sẵn sàng sử dụng tất cả các biện pháp hoà bình trên cơ sở luật pháp quốctế để bảo vệ những quyền và lợi ích trên biển chính đáng của mình. Việt Nammong rằng chính phủ và người dân trên toàn thế giới, trong đó có Chính phủ và ngườidân Thái Lan sẽ tiếp tục ủng hộ Việt Nam trong các nỗ lực thực hiện chủ trươngđúng đắn này.

Có vẻnhư Đại sứ Ninh rất thích trích dẫn ngạn ngữ. Vậy cũng xin kết thúc bài viếtnày bằng việc trích dẫn một câu ngạn ngữ Trung Quốc "Tiên trách kỷ hậ