Báo Đại Đoàn Kết Quốc hội

Không thể xây dựng Chính phủ số bằng những “mảnh ghép không muốn kết nối”

Báo Đại Đoàn Kết Tăng kích thước chữ

Không thể xây dựng Chính phủ số bằng những “mảnh ghép không muốn kết nối”

Báo Đại Đoàn Kết trên Google News

Không thể xây dựng Chính phủ số bằng những “mảnh ghép không muốn kết nối”
Bà Trịnh Thị Tú Anh phát biểu (Ảnh: Quang Vinh)

Ngày 1/12, Quốc hội thảo luận ở hội trường về dự án Luật Chuyển đổi số. Theo Đại biểu Trịnh Thị Tú Anh (Đoàn Lâm Đồng), chúng ta không thể xây dựng Chính phủ số bằng những “mảnh ghép không muốn kết nối”.

Đại biểu Trịnh Thị Tú Anh (Đoàn Lâm Đồng) cho hay, trong quá trình chuyển đổi số những năm gần đây, chúng ta đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, nhưng đồng thời cũng đối mặt với một thực tế kéo dài: hệ thống thông tin của các bộ, ngành, địa phương vẫn còn phân mảnh, thiếu khả năng liên thông, thiếu chuẩn dùng chung. 

Đơn cử, theo bà Anh, cùng một loại dữ liệu nhưng mỗi cơ quan lại áp dụng một cấu trúc khác nhau; cùng một quy trình nhưng tồn tại nhiều nền tảng xử lý song song. Kết quả là người dân phải khai báo nhiều lần, cơ quan nhà nước khó có được bức tranh đầy đủ và thống nhất để phục vụ điều hành. 

“Những “vùng cát cứ dữ liệu” này không chỉ là vấn đề kỹ thuật, mà là vấn đề thể chế và quản trị công”, bà Anh nói và đánh giá cao Điều 18 của dự thảo luật quy định Nguyên tắc kết nối, liên thông của hệ thống thông tin phục vụ cung cấp dịch vụ công trực tuyến. Đây là điều khoản có ý nghĩa nền tảng, không chỉ mang tính mô tả kỹ thuật, mà là trụ cột thể chế để hình thành một Chính phủ số vận hành thống nhất và minh bạch. 

Bà Anh tập trung nhấn mạnh vào 3 nhóm nguyên tắc mà Điều 18 đang đặt ra. Thứ nhất, yêu cầu tuân thủ Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số. Nếu coi hạ tầng số quốc gia như một không gian hạ tầng đặc biệt, thì Khung kiến trúc chính là quy hoạch tổng thể của không gian đó. Bất kỳ hệ thống nào “không xây theo quy hoạch” đều gây phân mảnh, tốn kém và làm chậm tiến trình cung cấp dịch vụ công. Việc luật hóa yêu cầu tuân thủ Khung kiến trúc là bước chuyển quan trọng, biến định hướng thành nghĩa vụ pháp lý. Một số quốc gia đi trước như Hàn Quốc đều có bài học chung: chỉ khi toàn bộ hệ thống nhà nước tuân thủ cùng một kiến trúc tổng thể, mô hình “một lần khai báo” mới thực sự vận hành. Đây không phải sự trùng hợp về kỹ thuật, mà là sự đồng nhất về kỷ luật thể chế.

Thứ hai, theo bà Anh, kết nối và liên thông phải dựa trên tiêu chuẩn, quy chuẩn và yêu cầu kỹ thuật thống nhất. Trong quản trị nhà nước, chuẩn không chỉ là công cụ kỹ thuật; chuẩn là kỷ luật bắt buộc để đảm bảo mọi hệ thống “nói cùng một ngôn ngữ”. Khi không có chuẩn chung, dữ liệu không thể tương thích; và khi dữ liệu không tương thích, Nhà nước không thể vận hành như một hệ thống thống nhất.

Bà Anh cho rằng, các tiêu chuẩn này cần tham chiếu với chuẩn khu vực và quốc tế, vì chuyển đổi số là lĩnh vực xuyên biên giới. 

Thứ ba, không thiết lập rào cản kỹ thuật trong kết nối và chia sẻ dữ liệu. Đây là nguyên tắc có tính “mở khóa hệ thống”. Chúng ta đã chứng kiến nhiều nền tảng được thiết kế theo hướng đóng, hạn chế API, hoặc phụ thuộc nhà cung cấp. Khi dữ liệu là tài sản công, việc giữ dữ liệu vì lợi ích cục bộ là hành vi gây tổn hại trực tiếp đến lợi ích chung. Điều 18 gửi một thông điệp rất rõ: không có “vùng cấm kỹ thuật” trong chia sẻ dữ liệu phục vụ quản lý nhà nước. 

Bên cạnh việc mở rộng kết nối, cũng theo bà Anh, dự thảo cũng quy định chặt chẽ trách nhiệm bảo đảm an toàn, an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu cá nhân và bí mật nhà nước trong quá trình chia sẻ. Đây là điểm cân bằng rất quan trọng. Kết nối không thể đánh đổi bằng rủi ro; liên thông không thể đánh đổi bằng mất an toàn. Khi lượng dữ liệu được chia sẻ ngày càng lớn, nếu không có chuẩn bảo mật thống nhất và cơ chế giám sát hiệu quả, hệ thống sẽ dễ bị tấn công, rò rỉ hoặc lạm dụng. Các yêu cầu này góp phần bảo đảm niềm tin của người dân – yếu tố cốt lõi để dịch vụ công trực tuyến phát triển bền vững.

Tuy nhiên, từ góc độ triển khai, bà Anh nói rằng thách thức lớn nhất của chúng ta không nằm ở công nghệ. Công nghệ luôn tiến bộ và ngày càng dễ tiếp cận. Thách thức thực sự nằm ở kỷ luật phối hợp và cơ chế giám sát tuân thủ. 

Để Điều 18 đi vào thực chất, bà Anh đề nghị cần xác định rõ cơ quan đầu mối ban hành tiêu chuẩn, quy chuẩn kết nối và liên thông; đồng thời công khai lộ trình áp dụng để các bộ, ngành và địa phương thực hiện thống nhất.

Bên cạnh đó, xây dựng cơ chế đánh giá, xếp hạng mức độ tuân thủ của từng đơn vị; công khai định kỳ để Quốc hội, Chính phủ và nhân dân cùng giám sát. 

Đồng thời quy định rõ chế tài đối với các hệ thống cố tình thiết kế theo hướng đóng, trì hoãn kết nối, hoặc xây dựng trái với Khung kiến trúc tổng thể. Chúng ta không thể xây dựng Chính phủ số bằng những “mảnh ghép không muốn kết nối”. 

“Nếu thực hiện nghiêm túc các nguyên tắc nêu trong Điều 18, gắn với cơ chế thực thi và giám sát mạnh mẽ, tôi tin rằng Việt Nam có thể bước sang một giai đoạn mới của dịch vụ công trực tuyến: nơi dữ liệu liên thông như một dòng chảy thống nhất; nơi người dân chỉ phải cung cấp thông tin một lần; và nơi mọi cơ quan Nhà nước vận hành như một hệ thống phục vụ chung cho lợi ích của nhân dân. Đó chính là tinh thần của một Chính phủ liêm chính, kiến tạo và hành động-một Chính phủ số thực chất, đồng bộ và lấy người dân làm trung tâm”, bà Anh nói.

Việt Thắng - Trung Hiếu