Kiểm soát dòng vốn
Mới đây, Thủ tướng Chính phủ đã có ý kiến chỉ đạo về tình hình vay trả nợ nước ngoài tự vay, tự trả của doanh nghiệp. Theo đó, Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì rà soát thực trạng cơ cấu vốn của khối doanh nghiệp FDI để đánh giá mức độ rủi ro của việc phụ thuộc nhiều vào vay nước ngoài của khối DN này; đồng thời đưa ra giải pháp khắc phục.

Kiểm soát chặt chẽ dòng vốn để bảo đảm hoạt động lành mạnh của doanh nghiệp.
Giám sát chặt chẽ việc vay trả nợ nước ngoài
Thủ tướng giao Ngân hàng Nhà nước thường xuyên giám sát chặt chẽ việc thực hiện hạn mức vay trả nợ nước ngoài tự vay, tự trả của DN, chủ động thông tin kịp thời cho Bộ Tài chính để tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định về hạn mức vay khi cần thiết; tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Chính phủ điện tử trong lĩnh vực quản lý vay, trả nợ nước ngoài tự vay, tự trả của DN.
Thủ tướng Chính phủ cũng chỉ đạo, Bộ Kế hoạch và Đầu tư dự báo kế hoạch vay và trả nợ của DN theo hình thức tự vay, tự trả giai đoạn 2017-2020 có tính đến các dự án đang xem xét cấp phép mới và thông báo cho Bộ Tài chính để cập nhật chương trình quản lý nợ trung hạn, tổng hợp xây dựng hạn mức vay hàng năm.
Đáng chú ý, Thủ tướng giao Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với Ngân hàng Nhà nước, Bộ Tài chính rà soát, báo cáo Thủ tướng về thực trạng cơ cấu vốn của khối DN FDI để đánh giá mức độ rủi ro của việc phụ thuộc nhiều vào vay nước ngoài của khối DN này; định hướng và giải pháp khắc phục chiến lược vốn mỏng của các DN FDI.
Như vậy, việc vay vốn, vay để trả nợ nước ngoài sẽ được kiểm soát chặt chẽ, nhằm bảo đảm sự lành mạnh của môi trường sản xuất kinh doanh, cũng là để bịt những lỗ hổng trong lĩnh vực này, để tránh thất thoát nguồn vốn.
Cũng ở lĩnh vực này, thời gian qua vốn FDI vào Việt Nam đang tăng nhanh. Xét theo địa bàn đầu tư, trong 8 tháng đầu năm, Hải Phòng là địa phương dẫn đầu với 51 dự án cấp mới và điều chỉnh vốn, tổng số vốn 2,02 tỷ USD, chiếm 14% tổng vốn đầu tư.
Tính đến ngày 20/8, cả nước có 1.619 dự án mới được cấp giấy chứng nhận đầu tư với tổng vốn đăng ký là 9,795 tỷ USD, tăng 24,3% so với cùng kỳ năm 2015. Bên cạnh đó còn có 770 lượt dự án đăng ký điều chỉnh vốn đầu tư với tổng vốn đăng ký tăng thêm là 4,571 tỷ USD, bằng 83,7% so với cùng kỳ.
Trong số 19 lĩnh vực thu hút được nhà đầu tư nước ngoài, công nghiệp chế biến, chế tạo vẫn là lĩnh vực thu hút được nhiều sự quan tâm của nhà đầu tư nước ngoài nhất với 678 dự án đăng ký mới và 551 lượt dự án điều chỉnh vốn. Riêng lĩnh vực chế biến và chế tạo đã có tổng số vốn cấp mới và tăng thêm là 10,53 tỷ USD, chiếm tới 73,3% tổng vốn đầu tư đăng ký trong 8 tháng.
Lĩnh vực hoạt động kinh doanh bất động sản đứng thứ 2 với 34 dự án cấp mới, tổng vốn đăng ký cấp mới và tăng thêm là 836,2 triệu USD, chiếm 5,8% tổng vốn đầu tư đăng ký. Tiếp đó là lĩnh vực hoạt động chuyên môn, khoa học công nghệ đứng thứ 3 với 622,3 triệu USD, chiếm 4,3% tổng vốn đầu tư…
Cũng theo Cục Đầu tư nước ngoài, 65 quốc gia và vùng lãnh thổ đã đầu tư dự án tại Việt Nam trong 8 tháng đầu năm nay. Hàn Quốc dẫn đầu với tổng vốn đầu tư đăng ký cấp mới và tăng thêm là 4,8 tỷ USD, chiếm 33,4% tổng vốn đầu tư vào Việt Nam. Singapore và Nhật Bản lần lượt giữ hai vị trí tiếp theo.
Trở lại việc kiểm soát dòng vốn, còn nhớ vào giữa năm 2013, cơ quan chức năng công bố việc hàng loạt doanh nghiệp FDI khai lỗ lớn. Theo đó, thực hiện kế hoạch thanh tra năm 2012, Thanh tra Chính phủ đã tiến hành một đợt thanh tra về việc chấp hành pháp luật về thu nộp ngân sách nhà nước tại khu chế xuất và doanh nghiệp chế xuất trên địa bàn thành phố Hà Nội, TP HCM, Bình Dương và Đồng Nai.
Qua kiểm tra 399 DN ở khu chế xuất có số thu phải nộp thuế, đã phát hiện ra 125 DN hạch toán lỗ trong 3 năm 2009 - 2011. Trong số này, có tới 36 DN lỗ 3 năm liên tiếp với tổng mức lỗ lên tới trên 2.800 tỷ đồng; 69 DN khác có mức lỗ 2 năm liên tiếp với tổng mức lỗ 1.829 tỷ đồng.
Tạm dừng bảo lãnh các dự án mới từ năm 2017
Cũng vào thời điểm này, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã có ý kiến chỉ đạo về việc quản lý, giám sát các dự án được Chính phủ bảo lãnh.
Thủ tướng yêu cầu tăng cường thực hiện kiểm tra, giám sát việc quản lý và sử dụng hiệu quả nguồn vốn vay; tiếp tục hoàn thiện cơ chế giám sát, thông tin, báo cáo đối với các dự án được Chính phủ bảo lãnh.
Định kỳ báo cáo Thủ tướng Chính phủ các dự án bảo lãnh kém hiệu quả, nguyên nhân, trách nhiệm cụ thể. Hạn chế việc cho vay ứng vốn từ Quỹ tích lũy trả nợ nếu DN vẫn còn có thể huy động từ các nguồn vốn khác. Các DN phải nỗ lực tự thu xếp nguồn vốn đảm bảo nghĩa vụ trả nợ, đàm phán với bên cho vay để tái cơ cấu khoản vay.
Đặc biệt, Thủ tướng chỉ đạo, trong năm 2016, xem xét kỹ các dự án ngay từ giai đoạn phê duyệt chủ trương cấp bảo lãnh để hạn chế dần bảo lãnh Chính phủ. Từ năm 2017, tạm dừng phê duyệt chủ trương cấp bảo lãnh cho các dự án mới để đảm bảo an toàn nợ công. Trường hợp đặc biệt cấp thiết, trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định cấp bảo lãnh Chính phủ đối với từng trường hợp cụ thể.
Trường hợp dự án đã hình thành xong tài sản nhưng chủ đầu tư không thực hiện thế chấp cho Bộ Tài chính theo yêu cầu, Bộ Tài chính yêu cầu chủ đầu tư trả nợ trước hạn để tất toán bảo lãnh Chính phủ.
Báo cáo của Bộ Tài chính mới đây cho biết, tính đến 31/12/2015, tổng số cam kết bảo lãnh Chính phủ là gần 26 tỷ USD, trong đó bảo lãnh vay nước ngoài hơn 21,8 tỷ USD, chiếm xấp xỉ 84%. Nhưng đến hết 2015, tổng số nợ thực tế được Chính phủ bảo lãnh là khoảng 21 tỷ USD. Con số bảo lãnh này chiếm khoảng 17,6% tổng dư nợ công và bằng 11,1%GDP.
Cũng từ cuối năm 2015, Chính phủ thống nhất không cấp bảo lãnh Chính phủ đối với các tập đoàn, tổng công ty có khó khăn tài chính, có nợ với quỹ tích lũy hoặc đang trong quá trình phải xử lý nợ vay lại vốn vay nước ngoài của Chính phủ hoặc nợ được Chính phủ bảo lãnh.