Kiến nghị về tiêu chuẩn giáo sư, phó giáo sư
Dự thảo quy định tiêu chuẩn, thủ tục bổ nhiệm, miễn nhiệm chức danh giáo sư (GS), phó giáo sư (PGS) được Bộ GD-ĐT công bố đang gây nhiều tranh luận trái chiều giữa các nhà khoa học tự nhiên và khoa học xã hội.
Nâng cao yêu cầu về ngoại ngữ
Theo dự thảo mới được Bộ GD-ĐT công bố, tiêu chuẩn chức danh GS, PGS có một số thay đổi so với Quyết định số 174/2008/QĐ-TTg được ban hành ngày 31-12-2008. Trong đó, đáng chú ý là sự thay đổi về yêu cầu sử dụng thành thạo ít nhất một ngoại ngữ phục vụ cho công tác chuyên môn đối với chức danh Giáo sư và Phó giáo sư.
Cụ thể, cần sử dụng thành thạo ngoại ngữ phục vụ cho công tác chuyên môn với các điều kiện cụ thể như có chứng chỉ tiếng Anh quốc tế TOEFL IBT với điểm tối thiểu là 65 hoặc IELTS với điểm tối thiểu là 5.5 có thời hạn không quá 2 năm tính đến thời điểm hết hạn nộp hồ sơ. Từ năm 2018 đến 2020, tăng thêm 5.0 điểm mỗi năm trên thang điểm TOEFL IBT và tăng thêm 0.5 điểm mỗi năm trên thang điểm IELT. Hoặc đã học tập ở nước ngoài…
Phần đông các nhà khoa học và dư luận xã hội đều đồng ý với quyết định này. GS TSKH Trần Văn Nhung - Tổng thư ký Hội đồng chức danh GS Nhà nước cho rằng yêu cầu phải có ngoại ngữ tốt là phù hợp với thời đại hội nhập hiện nay khi ngoại ngữ là công cụ cần thiết để thỏa mãn nghiên cứu.
Tương tự, GS Đào Trọng Thi - nguyên Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa Giáo dục Thanh thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội khẳng định, đây là điểm mới cần thiết để những người đã được phong GS, PGS có đủ năng lực để giao lưu với bạn bè quốc tế, không chỉ loanh quanh trong “ao làng” mà còn có khả năng gia tăng công bố công trình quốc tế về sau này.
Quan điểm này cũng phù hợp với Quy chế mới về đào tạo tiến sĩ vừa được Bộ GD-ĐT ban hành. Theo đó, ngoại ngữ được xác định là công cụ hỗ trợ không thể thiếu cho nghiên cứu sinh trong quá trình học tập và nghiên cứu khoa học. Ứng viên dự tuyển phải có trình độ ngoại ngữ đầu vào (đặc biệt là tiếng Anh) đạt chuẩn ở mức độ nhất định để đảm bảo có thể nghiên cứu, tham khảo tài liệu của nước ngoài trong quá trình học tập, nghiên cứu khoa học và hoàn thiện luận án.
Công bố quốc tế, bao nhiêu là đủ?
Về tiêu chuẩn phải có công bố quốc tế, Khoản 4 Điều 8 của Dự thảo quy định, đối với chức danh GS đến năm 2019, ứng viên thuộc nhóm ngành Khoa học Tự nhiên (KHTN), Kỹ thuật và Công nghệ là tác giả chính và đã công bố được ít nhất: 2 bài báo khoa học trên tạp chí khoa học quốc tế thuộc hệ thống ISI, Scopus; hoặc ít nhất 1 bài báo khoa học hệ thống ISI và 1 quyển hoặc chương sách phục vụ đào tạo được xuất bản bởi một nhà xuất bản có uy tín trên thế giới; hoặc ít nhất 1 bài báo khoa học thuộc hệ thống ISI, Scopus và 1 bằng độc quyền sáng chế.
Ứng viên thuộc nhóm ngành Khoa học Xã hội và Nhân văn (KHXH&NV) là tác giả chính và đã công bố được ít nhất 1 bài báo khoa học trên tạp chí khoa học quốc tế thuộc hệ thống ISI, Scopus.
Từ năm 2020, ứng viên phải có thêm ít nhất 1 bài báo khoa học theo tiêu chuẩn trên.
Trong khi đó, đối với chức danh PGS, Dự thảo quy định đến năm 2019, ứng viên là tác giả chính và đã công bố được ít nhất 1 bài báo khoa học trên tạp chí khoa học quốc tế thuộc hệ thống ISI, Scopus hoặc 1 quyển hoặc 1 chương sách phục vụ đào tạo được xuất bản bởi một nhà xuất bản có uy tín trên thế giới hoặc 1 bằng độc quyền sáng chế. Từ năm 2020, ứng viên phải có thêm ít nhất 1 bài báo khoa học theo tiêu chuẩn này.
Theo ý kiến của Viện Toán học, cần nâng cao hơn nữa tiêu chuẩn PGS, GS. Thực tế, hiện nay nhiều cơ sở đào tạo đã yêu cầu luận án trong nhóm ngành Khoa học Tự nhiên phải có 1 - 2 bài báo ISI.
“Vậy yêu cầu đối với PGS ít nhất phải gấp đôi, tức là nên nâng lên thành 4 bài ISI. GS không phải là hai lần PGS, nên việc qui định ít nhất có 8 bài ISI không có gì là quá đáng. Chúng ta cũng không nên quá khích bằng cách nâng cao hơn nữa số bài, vì như toàn bộ thảo luận trong văn bản này đã nêu rõ: thông tin về số lượng chỉ mang tính tham khảo, còn chất lượng mới mang tính quyết định. Chạy đua về số lượng đương nhiên làm ảnh hưởng đến chất lượng” – Viện Toán học cho biết.
GS Hoàng Xuân Phú - Viện Toán học chỉ ra, trong năm 2016, nhóm ngành Khoa học tự nhiên, Kỹ thuật và Công nghệ có 411 GS và PGS được phong với tổng cộng 2.368 bài báo ISI và Scopus, như vậy tỷ lệ bình quân là 5,76 bài/người.
Còn theo PGS Hoàng Mạnh Thắng (Viện Điện tử Viễn thông, ĐH Bách khoa Hà Nội) cho rằng, sau khi bảo vệ tiến sĩ ba năm – tức thời điểm được phép nộp hồ sơ xin công nhận chức danh PGS, một nhà nghiên cứu thông thường ở các nước Nhật Bản, Hàn Quốc hoặc Đài Loan có thể có ít nhất 6 công bố trên các tạp chí uy tín.
Tuy nhiên, nhiều nhà khoa học xã hội đã phản biện lại ý kiến này. GS Trần Trí Dõi - ĐH KHXH&NV-ĐH Quốc gia Hà Nội, Ủy viên Hội đồng Chức danh GS ngành Ngôn ngữ học cho rằng những người soạn bản Dự thảo vẫn “chưa thấy hết mức độ khác biệt” giữa KHTN - kỹ thuật - công nghệ và KHXH&NV. Mức độ khác biệt giữa những phân ngành trong hai khối ngành khoa học đó cũng là vấn đề còn nhiều tranh cãi.
Trong đó, việc đề ra tiêu chuẩn cao hơn về điều kiện công bố trên các tạp chí thuộc hệ thống ISI, Scopus là một rào cản với nhiều người. Việc vội vàng đặt ra yêu cầu này mà không có được cơ sở xã hội để thực hiện thì sẽ chết yểu đồng thời triệt tiêu sự say mê của những ứng viên dồn công sức cho nhiệm vụ phát triển xã hội của quốc gia.
Một số ý kiến khác cho rằng nên tách ra nhóm ngành KHTN và KHXH sẽ tạo điều kiện nâng cao đòi hỏi về số công bố quốc tế chất lượng cao, đồng thời bỏ được các tiêu chuẩn xa lạ so với thông lệ quốc tế trong hướng khoa học này.