Kim Toàn - một nhà báo, chiến sĩ tiêu biểu
Nhà báo Kim Toàn (Cao Kim) – cựu phóng viên Báo Giải Phóng và Luật sư Trương Trọng Nghĩa- cựu nhân viên Báo Giải Phóng (hai người đứng giữa) cùng đoàn công tác của Bảo tàng Báo chí Việt Nam và các nhà báo trẻ trong cuộc gặp mặt thân mật tại Tòa soạn Báo Đại đoàn kết (tháng 6/2024).

Mỗi lần nhớ lại những năm tháng làm phóng viên báo Giải Phóng, trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước tại chiến trường miền Nam, nhà báo Kim Toàn lại trầm ngâm, đôi mắt như nhìn xuyên qua lớp bụi thời gian để trở về với những dốc núi cao, những rừng già xác xơ vì chất độc hóa học trên dãy Trường Sơn; những con đường bị cày xới, những xóm ấp bị tàn phá bởi bom đạn và những đêm Sài Gòn rực lửa. Ông từng nói với lớp phóng viên trẻ rằng đời người có thể đi qua rất nhiều chặng đường, nhưng sẽ luôn có một quãng đời ở lại mãi trong tim, không thể nào quên. Với ông, đó là những năm tháng vô cùng gian khổ và ác liệt, vừa cầm bút vừa cấm súng tại chiến trường Nam Bộ và Sài Gòn - Gia Định - nơi ranh giới giữa sự sống và cái chết thật mong manh, nơi mỗi bài báo được viết đều phải trả giá bằng cả máu và nước mắt.
Tháng 8 năm 1965 - đúng vào thời điểm đế quốc Mỹ ào ạt đổ quân vào xâm lược miền Nam nước ta, từ báo Hải Phòng, nhà báo Kim Toàn tình nguyện lên đường cùng đồng nghiệp làm báo tại tiền tuyến lớn. Sau gần nửa năm vừa học tập chính trị, nghiệp vụ vừa luyện tập quân sự, đầu năm 1966, ông cùng đoàn cán bộ báo chí gồm 23 người (trong đó chỉ có 5 người quê miền Bắc) mang mật danh K94 bí mật vượt Trường Sơn vào Nam.
Nhà báo Kim Toàn (bút danh Cao Kim), sinh năm 1940 tại Hải Phòng. Ông làm báo từ năm 1960, tại báo Kiến An và báo Hải Phòng. Năm 1965, theo tiếng gọi của Tổ quốc, ông tình nguyện cùng đồng đội vào làm báo tại tiền tuyến lớn, là một trong các phóng viên chủ lực của Báo Giải phóng - cơ quan Trung ương của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tại chiến trường Nam Bộ và Sài Gòn- Gia Định. Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, thống nhất đất nước, ông trở về thành phố Cảng quê hương làm Thư ký tòa soạn, Phó Tổng biên tập rồi Tổng Biên tập Báo Hải Phòng; Chủ tịch Hội Nhà báo Hải Phòng, Ủy viên Ban chấp hành, Ủy viên Thường vụ Hội Nhà báo Việt Nam cho đến ngày nghỉ hưu. Ông được tặng Huy chương Vì sự nghiệp Báo chí Việt Nam đợt đầu và là một trong những nhà báo của Việt Nam vinh dự được Tổ chức Quốc tế các nhà báo OIJ tặng Huy chương danh dự vào năm 1996.
Hành trình vượt Trường Sơn, với ông cũng là ký ức đầy gian khổ và tự hào. Đó là những ngày ông cùng đồng đội chống gậy đi bộ triền miên giữa rừng sâu, vượt qua những con dốc dựng đứng, những sông sâu, thác dữ, vừa đối phó với máy bay giặc ném bom, bắn phá và rải chất độc hóa học, vừa chống chọi với những trận sốt rét quái ác, trong khi thiếu gạo thiếu muối, nhiều ngày phải ăn cháo độn măng hoặc rau rừng thay cơm. Ngày ấy, mỗi nhà báo vượt Trường Sơn thường mang vác khá nặng: không chỉ có giấy bút, sổ sách, máy ảnh, máy thu thanh mà còn cả súng đạn, dao găm võng màn, quần áo, gạo muối, bi đông nước, đèn pin, dao phát rừng, thuốc trị bệnh... Ai cũng phải thực hiện nghiêm ngặt khẩu hiệu “đi không dấu, nấu không khói, nói không tiếng”.
Nhà báo Kim Toàn kể rằng, có lần cả đoàn đang hành quân thì trời mưa to, ông không may bị trượt chân ngã xuống khe đá và bị gãy tay. Đồng đội phải gửi ông nghỉ lại trạm giao liên vài ngày cho đỡ đau rồi mới đi tiếp. Vượt Trường Sơn là cuộc trường chinh vô cùng gian khổ. Khi còn lành lặn, ai hành quân cũng rất cực nhọc, nhưng bị gãy một tay, phải băng bó như nhà báo Kim Toàn, sự khó khăn còn tăng gấp bội. Nhưng dù đau đớn, ông vẫn không lùi bước.

Có lần đoàn báo chí K94 bị máy bay Mỹ ném bom trúng đội hình. Khói lửa trộn đất đá và lá rừng tung lên mù mịt. Nhà báo Kim Toàn bị sức ép của bom hất văng xuống triền núi bất tỉnh. May mà có đồng đội tìm được và cứu kịp thời nên ông đã qua cơn nguy hiểm.
Sau hơn bốn tháng vượt Trường Sơn, nhà báo Kim Toàn cùng đồng đội vào tận chiến trường Nam Bộ và được phân công về Báo Giải Phóng - cơ quan Trung ương của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam. Từ đó ông mang bút danh Cao Kim.
Tòa soạn và nhà in của Báo Giải Phóng là những ngôi nhà hầm lợp lá trung quân đặt gần các cơ quan của Trung ương Cục Miền Nam, nằm sâu trong rừng già Tây Ninh, giữa những hào giao thông, công sự chiến đấu và bãi chông chằng chịt. Tuy cuộc sống rất gian khổ thiếu thốn nhiều bề, nhưng những người làm báo của Mặt trận lúc nào cũng hừng hực khí thế chiến đấu và đầy niềm tin vào chiến thắng.
Nơi ấy, trong căn cứ kháng chiến, người làm báo không đơn thuần là hành nghề. Đó là nhiệm vụ chiến đấu với giặc bằng vũ khí báo chí. Dù làm báo với những phương tiện kỹ thuật rất thô sơ trong hầm tối nhưng mỗi bài viết, tấm hình, trang báo được xuất bản tại trận đều là đòn tiến công trực diện kẻ thù hung bạo và là nguồn động viên, cổ vũ đồng bào, chiến sĩ ta ở cả tiến tuyến và hậu phương đoàn kết, quyết tâm chiến đấu và chiến thắng đế quốc Mỹ xâm lược.
Mỗi lần nhớ lại những năm tháng làm báo tại chiến trường, nhà báo Kim Toàn (Cao Kim) thường nhắc đến kỷ niệm sâu sắc khi được công tác cùng nhà báo Hồng Châu (tức Thép Mới) với lòng ngưỡng mộ một nhà báo tài năng, đức độ, một người anh lớn, người thầy rất đỗi kính yêu. Cuối năm 1967, ông được giao nhiệm vụ cùng nhà báo Hồng Châu bí mật đột nhập Sài Gòn để viết bài phản ánh về cuộc đấu tranh của quân, dân ta và gấp rút chuẩn bị mọi mặt để sẵn sàng xuất bản một tờ báo cách mạng ngay giữa sào huyệt địch khi thời cơ đến.
Đó là nhiệm vụ rất mới, đầy khó khăn và cực kỳ nguy hiểm, rất dễ hy sinh hoặc bị địch bắt bớ tù đày, nhưng ông vẫn cùng nhà báo Hồng Châu mưu trí, dũng cảm hoạt động giữa sự kiểm soát nghiêm ngặt của bộ máy đàn áp dày đặc và những phương tiện chiến tranh hiện đại của quân địch. Nhà báo Kim Toàn rất tự hào được sát cánh cùng nhà báo Hồng Châu làm báo giữa Sài Gòn, trực tiếp góp phần cùng quân, dân miền Nam trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968 lịch sử ngay tại trung tâm sào huyệt địch.
Bất ngờ và bị động trước đòn choáng váng của quân và dân ta, bọn hiếu chiến Mỹ và chính quyền Sài Gòn dốc toàn bộ lực lượng, điên cuồng mở các cuộc phản kích dữ dội nhằm giành lại quyền kiểm soát đô thị. Các cuộc chiến đấu giữa ta và địch diễn ra vô cùng ác liệt. Tình hình chiến trường diễn biến rất nhanh và phức tạp. Việc chuẩn bị xuất bản báo của hai nhà báo Hồng Châu và Cao Kim đứng trước nhiều khó khăn, nguy hiểm. Để bảo toàn lực lượng, cấp trên quyết định đưa nhà báo Hồng Châu ra khỏi nội đô, chỉ để Cao Kim ở lại vừa góp phần chiến đấu vừa tiếp tục viết báo.
Một ký ức khiến ông nhớ mãi là việc Báo Giải Phóng từng nhận giấy báo tử mang tên Cao Kim vào tháng 3/1968. Tin báo rằng ông đã hy sinh trong một trận chống càn ở Long An và đã được chôn cất tại địa phương. Cơ quan đã tổ chức lễ truy điệu ông. Nhưng người hy sinh thực sự là đồng chí Hai Ca, Đội trưởng Đội vũ trang tuyên truyền T4 do trong túi áo của đồng chí Hai Ca có giấy chuyển sinh hoạt Đảng mang tên Cao Kim do chính tay ông nộp cho đội trưởng kiêm Bí thư Chi bộ hôm gia nhập đơn vị này, nhưng đồng chí Hai Ca chưa kịp lưu vào hồ sơ cất giữ.

Theo nhà báo Kim Toàn, việc báo tử nói trên chỉ là sự nhầm lẫn giữa lúc bơm rơi đạn lạc nhưng câu chuyện hy hữu đầy máu và nước mắt này lại trở thành một kỷ niệm sâu sắc đối với ông và đồng đội thời lửa đạn chiến tranh.
Với ông, những năm tháng làm báo ở chiến trường, ông không chỉ chứng kiến nhiều tấm gương chiến đấu, hy sinh dũng cảm mà cả những cảnh đau thương, mất mát của đồng bào và chiến sĩ ta do giặc Mỹ gây ra. Có những người đồng đội, đồng nghiệp đang cùng nhau tác nghiệp đã hy sinh. Có những bà mẹ mất chồng, mất con vẫn lặng lẽ nuôi giấu cán bộ. Có những em nhỏ giữa đạn bom và sự bao vây, khủng bố gắt gao của giặc vẫn làm giao liên, tiếp lương thực cho cán bộ, bộ đội, chấp nhận bị tù đày hoặc hy sinh. Chính những con người bình dị, kiên cường, mà dũng cảm ấy đã giúp ông tăng thêm niềm tin và nghị lực để vượt qua mọi gian khổ, vững vàng cầm bút và cầm súng.
Một kỷ niệm sâu sắc nữa trong ký ức của nhà báo Kim Toàn là vào năm 1969, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, cả chiến khu chìm trong đau thương. Báo Giải Phóng rất cần in ảnh chân dung Bác thật nổi bật nhưng gặp khó khăn do không có điều kiện làm bản kẽm khổ lớn. Biết Báo Granma của Cuba có đăng ảnh Bác khổ lớn - bức ảnh của nữ nhà báo Marta Rojas - nhà báo nước ngoài cuối cùng vinh dự gặp Bác Hồ trước ngày Bác đi xa - ông đề xuất Tổng Biên tập Hồng Châu gửi thư nhờ hỗ trợ. Nửa tháng sau, một thùng hàng đặc biệt từ Cuba được chuyển tới chiến khu, trong đó có bản kẽm ảnh Bác Hồ.
Nhìn tấm ảnh Bác được in trang trọng trên trang đầu của báo Giải Phóng giữa nơi lửa đạn, nhiều người đã bật khóc. Từ số báo đặc biệt đó, Báo Giải Phóng còn in thêm hàng nghìn ảnh Bác để gửi tới đồng bào và chiến sĩ. Ông nói rằng chưa bao giờ cảm nhận rõ sức mạnh của niềm tin như trong những ngày ấy - niềm tin giúp con người vượt qua đau thương để tiếp tục chiến đấu.
Với nhà báo Kim Toàn, Báo Giải Phóng không chỉ là một tờ báo thời chiến mà còn là biểu tượng của ý chí thống nhất đất nước. Những người làm báo khi ấy có thể thiếu ăn, thiếu thuốc men, thiếu giấy in, sống và viết giữa lằn ranh sinh tử nhưng chưa bao giờ cho phép mình cầu thả với sự thật. Họ hiểu rằng mỗi dòng tin đăng lên đều mang theo niềm hy vọng của biết bao con người.

Bây giờ, mỗi lần nhắc đến những đồng nghiệp đã ngã xuống, giọng ông vẫn nghẹn lại. Ông xem việc tiếp tục viết và kể lại ký ức chiến trường là món nợ với những người không trở về. Ông đã lần lượt cho ra mắt 4 cuốn sách: “Cánh chim nhỏ giữa sào huyệt địch”, “Làm báo ở chiến trường”, “Viết trong lửa đạn” và cuốn sách mới nhất ông hoàn thành khi ở tuổi 84 là “Hai lần vượt Trường Sơn”. Những trang viết nóng bỏng ký ức những ngày gian nan vượt Trường Sơn và làm báo trong bom đạn, trang nào cũng thấm đẫm tình nghĩa đồng đội, đồng bào. Bởi nói như ông, “nếu im lặng, nhiều câu chuyện sẽ biến mất cùng năm tháng”.
Khi chúng tôi nhắc đến việc đề nghị Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang Nhân dân cho Báo Giải Phóng, điều đầu tiên ông nghĩ tới không phải là vinh quang mà là những gương mặt đồng đội đã nằm lại chiến trường.
Gần 10 năm xông pha nơi lửa đạn, góp phần xuất bản báo Giải Phóng ngay tại chiến trường, nhà báo Kim Toàn (Cao Kim) cùng các đồng đội, đồng nghiệp đã vượt qua vô vàn khó khăn, gian khổ và ác liệt. Là một trong những phóng viên chủ lực của báo, ông không chỉ vừa cầm súng, cầm bút mà còn tham gia mở một số lớp học cấp tốc ngắn ngày giúp các địa phương, đơn vị huấn luyện, đào tạo người làm báo tại chỗ. Không những thế, nhiều lần ông còn góp phần xây dựng cơ sở cách mạng trong vùng địch chiếm đóng hoặc tham gia đào hầm, làm dân công tải đạn phục vụ chiến đấu.
Nhà báo Kim Toàn cho rằng, trong lịch sử báo chí cách mạng Việt Nam, hiếm có cơ quan báo chí nào chỉ với những phương tiện làm báo thô sơ đã bám trụ chiến trường xuất bản báo dưới mưa bom bão đạn của giặc suốt một thập niên như báo Giải Phóng. Không chỉ ra báo và trực tiếp cầm súng chiến đấu, những người làm báo Giải phóng còn là lực lượng chủ yếu trong tổ chức huấn luyện, đào tạo người làm báo tại tiền tuyến.
Nhà báo Kim Toàn rất xúc động mỗi khi nhắc tới các đồng nghiệp đã hy sinh hoặc mang thương tật do chiến tranh. Tới nay, nhiều nhà báo của báo Giải Phóng do tuổi cao và mang thương tật đã qua đời. Theo ông, việc vinh danh tờ báo của Mặt trận vào thời điểm này tuy muộn nhưng vẫn cần thiết và có ý nghĩa. Đó không chỉ là sự ghi nhận của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đối với một tờ báo Anh hùng trên tiền tuyến lớn mà còn là sự tri ân đối với một tập thể nhà báo - chiến sĩ đã sống, chiến đấu và làm báo, cống hiến hết mình, hy sinh bằng tất cả lòng yêu nước, yêu nghề.
Giờ đây, khi ở tuổi 86, tuy mái tóc đã bạc, sức khỏe yếu nhiều, nhưng nhà báo Kim Toàn vẫn say nghề và không ngừng viết báo, viết sách. Ông thường tâm sự với người làm báo trẻ rằng, làm báo phải không ngừng học tập về mọi mặt, rèn luyện bản lĩnh, có ý chí phấn đấu, biết tôn trọng sự thật, trân trọng lịch sử của dân tộc, sâu sát cuộc sống, gắn bó với Nhân dân và thật sự yêu nghề.
Hơn 60 năm đã trôi qua kể từ ngày nhà báo Kim Toàn tình nguyện lên đường ra trận cùng đồng đội làm báo tại chiến trường cho đến những năm đất nước hòa bình, thống nhất, đổi mới và phát triển, nhưng thời gian không làm ông phai mờ tinh thần của một nhà báo - chiến sĩ. Đó là tinh thần dấn thân vì Tổ quốc, vì Nhân dân, vì sự thật- những giá trị làm nên phẩm giá của người làm báo cách mạng Việt Nam qua mọi thời đại.