Kinh tế Việt Nam: Bài toán lớn về phân bổ nguồn lực
Mục tiêu tăng trưởng hai con số trong giai đoạn 2026–2030 đặt ra yêu cầu rất lớn đối với nền kinh tế Việt Nam: Vừa phát huy năng lực tự chủ của doanh nghiệp trong nước, vừa hội nhập sâu rộng với kinh tế toàn cầu. Theo các chuyên gia, để hiện thực hóa mục tiêu này, trọng tâm cần đặt vào cải cách cơ cấu, nâng cao năng suất và tăng hiệu quả thực thi chính sách.

Bàn tròn Tết này của chúng tôi với TS Cấn Văn Lực – Kinh tế trưởng BIDV, TS Trần Khắc Tâm – Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp Sóc Trăng và TS Huỳnh Thanh Điền – Trường Đại học Nguyễn Tất Thành, cùng phân tích những cơ hội, thách thức và động lực tăng trưởng của Việt Nam trong giai đoạn tới.
Tái cấu trúc để phát triển bền vững
PV: Năm 2025 được xác định là năm bản lề với sự ra đời của “bộ tứ trụ cột” chính sách (các Nghị quyết của Bộ Chính trị: 57; 59 ; 66; 68). Đây được xem là nền tảng chiến lược để khơi thông và dẫn dắt các động lực tăng trưởng mới cho giai đoạn sau. Các chuyên gia có thể chia sẻ góc nhìn của mình về kỳ vọng Việt Nam trong năm 2026?
TS Cấn Văn Lực: Kinh tế Việt Nam đang phục hồi nhưng vẫn chịu áp lực đan xen từ trong nước và quốc tế. Nhiều nghị quyết lớn được ban hành trong năm 2025 như 4 Nghị quyết trên và dự báo đến 2026 sẽ có các nghị quyết lớn về doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài… Tất cả sẽ tác động trực tiếp tới môi trường đầu tư – kinh doanh, nhưng song song với đó, hệ thống pháp luật cần tiếp tục được hoàn thiện để nâng cao hiệu quả điều hành.

TS Trần Khắc Tâm: Bước sang năm 2026, kinh tế Việt Nam đứng trước đan xen cơ hội và thách thức. Trên bình diện toàn cầu, tái cấu trúc chuỗi cung ứng diễn ra mạnh mẽ, cùng với già hóa dân số, biến đổi khí hậu, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh đang làm thay đổi sâu sắc cấu trúc kinh tế thế giới. Ở trong nước, các mô hình tăng trưởng truyền thống dần bộc lộ giới hạn khi năng suất lao động tăng chậm, dư địa chính sách tài khóa – tiền tệ thu hẹp, chất lượng thể chế chưa theo kịp yêu cầu phát triển, trong khi quá trình chuyển đổi số và xanh vẫn còn nhiều điểm nghẽn.
Trong bối cảnh đó, động lực tăng trưởng năm 2026 cần được tái định vị theo hướng chất lượng và bền vững hơn. Việt Nam cần thúc đẩy đầu tư tư nhân chất lượng cao, đẩy nhanh chuyển dịch lao động sang các khu vực có năng suất cao, khai thác hiệu quả các FTA thế hệ mới như CPTPP, EVFTA, đồng thời thu hút dòng vốn công nghệ cao gắn với chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và phát triển năng lượng bền vững. Mục tiêu tăng trưởng hai con số không nằm ngoài tầm với, nếu Việt Nam đổi mới tư duy, hành động quyết liệt bằng các chính sách đột phá và tạo được sự phối hợp hiệu quả giữa Nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng quốc tế.
TS Huỳnh Thanh Điền: Năm 2026, Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng kinh tế từ 10% trở lên, với GDP bình quân đầu người đạt 5.400 - 5.500 USD, và CPI bình quân tăng khoảng 4,5%. Quốc hội đã chính thức thông qua Nghị quyết này, yêu cầu Chính phủ tập trung ổn định vĩ mô, điều hành chính sách tài khóa-tiền tệ linh hoạt, và đầu tư vào công nghệ, tái cấu trúc thị trường vốn để đạt mục tiêu kép (tăng trưởng cao và ổn định) trong kỷ nguyên cạnh tranh mới.
Mục tiêu tăng trưởng kinh tế 10% vào năm 2026 là một khát vọng lớn, nhưng hoàn toàn khả thi nếu Việt Nam khai thác đúng và trúng các động lực phát triển. Thực tế cho thấy, dòng vốn FDI vẫn đang chảy mạnh vào Việt Nam nhờ môi trường chính trị ổn định, chi phí cạnh tranh và vị trí ngày càng quan trọng trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Cùng với đó, xuất khẩu tiếp tục mở rộng nhờ mạng lưới các hiệp định thương mại tự do rộng khắp, trong khi đầu tư công và tiêu dùng trong nước được thúc đẩy đã mở thêm dư địa tăng trưởng cho khu vực tư nhân.
Tuy nhiên, thách thức lớn nhất hiện nay nằm ở tỷ lệ nội địa hóa còn thấp và sự liên kết lỏng lẻo giữa khu vực FDI, doanh nghiệp tư nhân và Nhà nước. Ba dòng chảy này vẫn vận hành gần như tách biệt, chưa tạo thành một hệ sinh thái thống nhất. Nếu thiếu cơ chế phối hợp hiệu quả và chia sẻ lợi ích rõ ràng, nền kinh tế sẽ khó tạo được sức bật nội sinh đủ mạnh.
Vì vậy, điều Việt Nam cần trong giai đoạn tới không chỉ là tăng tốc về quy mô, mà quan trọng hơn là tái cấu trúc để phát triển bền vững. Trọng tâm là xây dựng nền công nghiệp có khả năng tự chủ, gắn kết chặt chẽ với chuỗi giá trị toàn cầu, đồng thời “nâng tầm” khu vực kinh tế tư nhân để khu vực này thực sự trở thành động lực trung tâm của tăng trưởng.
PV: Một vấn đề được nhiều người quan tâm là đầu tư công. Lĩnh vực này vẫn được kỳ vọng đóng vai trò “dẫn dắt”, thậm chí là “vốn mồi” của nền kinh tế. Trong giai đoạn 2021–2025, đầu tư công chiếm khoảng 17,2% tổng vốn đầu tư toàn xã hội; cứ một đồng vốn đầu tư công tăng thêm có thể kéo theo 1,61 đồng vốn đầu tư tư nhân. Tuy nhiên, khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế vẫn có giới hạn. Điều này sẽ tác động như thế nào tới mục tiêu tăng trưởng 10% năm 2026 và hướng tới tăng trưởng hai con số trong thời gian tới?
TS Cấn Văn Lực: Đầu tư công là một trong ba trụ cột quan trọng đóng góp cho tăng trưởng kinh tế, giúp Việt Nam tăng tốc, vượt qua bẫy thu nhập trung bình và tiến tới nhóm quốc gia thu nhập cao. Không chỉ tạo lực đẩy ngắn hạn, đầu tư công còn góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và thúc đẩy phát triển bền vững thông qua việc phát triển hạ tầng giao thông, năng lượng, viễn thông, hạ tầng số, y tế – giáo dục, cũng như ứng phó với biến đổi khí hậu và thiên tai.
Tuy nhiên, thực tế giai đoạn 2021–2025 cho thấy cơ cấu đầu tư công còn mất cân đối. Khoảng 80% vốn tập trung vào hạ tầng, nhưng mới đáp ứng được khoảng 58% nhu cầu. Nhiều dự án chậm tiến độ, tồn đọng kéo dài, làm giảm hiệu quả giải ngân; phản ánh hiệu quả đầu tư chưa tương xứng. Trong khi đó, chi cho giáo dục – đào tạo, khoa học – công nghệ và y tế còn khá khiêm tốn.
Để đầu tư công thực sự trở thành “vốn mồi” cho tăng trưởng hai con số giai đoạn 2026–2030, cần tái cơ cấu mạnh mẽ theo hướng giảm dần tỷ trọng đầu tư hạ tầng xuống khoảng 50–55% tổng vốn, đồng thời tăng chi cho giáo dục – đào tạo lên khoảng 20%, y tế 10–12% và khoa học – công nghệ 3–5%. Đây là cách nâng cao chất lượng tăng trưởng, thay vì chỉ chạy theo quy mô.
TS Trần Khắc Tâm: Trong bối cảnh nhiều động lực truyền thống như tiêu dùng, tín dụng hay xuất khẩu còn chịu sức ép, đầu tư công đang nổi lên như “trụ đỡ” quan trọng nhất giúp nền kinh tế giữ nhịp tăng trưởng và hướng tới mục tiêu 10% vào năm 2026.

Đầu tư công không chỉ đơn thuần là chi ngân sách. Mỗi tuyến cao tốc, mỗi dự án năng lượng khi được triển khai sẽ tạo ra hiệu ứng lan tỏa rất lớn, kéo theo nhu cầu về vật liệu, logistics, khu công nghiệp và chuỗi sản xuất phụ trợ. Chính từ đó, đầu tư công đóng vai trò dẫn dắt, kích hoạt dòng vốn tư nhân và vốn đầu tư nước ngoài. Chúng ta nhớ lại số liệu, cuối năm 2025, 34 tỉnh thành đã đồng loạt tiến hành khởi công, khánh thành 234 công trình, dự án. Một điểm đáng chú ý là, trong khi nguồn vốn Nhà nước tại 96 dự án chỉ chiếm 18% tổng mức đầu tư, tương đương hơn 627.000 tỷ đồng, thì nguồn vốn khác là hơn 2,79 triệu tỷ đồng, chiếm 82% tổng mức đầu tư, phản ánh khí thế phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế trong giai đoạn mới với sự phối hợp nhịp nhàng giữa công – tư sau khi hàng loạt cơ chế chính sách mới được ban hành. 234 dự án này không chỉ đẩy kết quả giải ngân vốn đầu tư công của năm 2025 mà còn tạo ra khối lượng công việc lớn, góp phần giải quyết việc làm, đồng thời kích hoạt tăng trưởng cho năm 2026 và giai đoạn tiếp theo.
Tuy nhiên, tăng trưởng bền vững không thể dựa mãi vào một “động cơ”. Điều tích cực là Việt Nam vẫn còn dư địa lớn để mở rộng đầu tư công mà không gây rủi ro nợ công, khi nợ Chính phủ vẫn dưới 40% GDP và lượng vốn ngân sách chưa giải ngân còn khá lớn.
Với cách tiếp cận hợp lý, đầu tư công sẽ tiếp tục là mũi nhọn then chốt, vừa hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng 10% trong năm 2026, vừa tạo nền tảng để tái cơ cấu nền kinh tế theo hướng hiện đại, năng suất cao và bền vững hơn trong những năm tiếp theo.
Bài kiểm tra quan trọng về nội lực sáng tạo
PV: Việc nâng cao năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) và gia tăng tỷ lệ nội địa hóa (DVA) đang trở thành yêu cầu mang tính chiến lược, gắn trực tiếp với năng lực tự chủ và sức mạnh nội sinh của nền kinh tế. Thưa các chuyên gia, đây không chỉ là câu chuyện của những con số, mà là thước đo chất lượng tăng trưởng và khả năng đi đường dài của Việt Nam?
TS Huỳnh Thanh Điền: Định hướng chuyển đổi mô hình tăng trưởng đã được xác lập khá rõ nét. Theo đó, đến năm 2030, TFP được kỳ vọng đóng góp trên 55% vào tăng trưởng kinh tế; năng suất lao động bình quân tăng khoảng 8,5% mỗi năm; công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm khoảng 28% GDP; còn kinh tế số vươn lên mức 30% GDP. Những mục tiêu này cho thấy quyết tâm chuyển từ tăng trưởng theo chiều rộng sang chiều sâu, lấy khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo làm động lực then chốt cho năng suất và hiệu quả.
Nhìn lại giai đoạn 2021–2025, kinh tế Việt Nam duy trì mức tăng trưởng bình quân khoảng 6,3%/năm; quy mô GDP vượt mốc 510 tỷ USD, GDP bình quân đầu người tiệm cận 5.000 USD, đưa Việt Nam bước vào nhóm nước thu nhập trung bình cao. Đáng chú ý, TFP đã đóng góp khoảng 47% vào tăng trưởng, phản ánh nỗ lực cải thiện chất lượng phát triển. Tuy vậy, năng suất lao động chỉ tăng bình quân 5,3%/năm, thấp hơn mục tiêu đề ra; Tỷ lệ nội địa hóa trong công nghiệp chế biến, chế tạo dù có cải thiện nhưng vẫn còn thấp, phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu nguyên phụ liệu và linh kiện, khiến giá trị gia tăng trong nước hạn chế và hiệu ứng lan tỏa công nghệ chưa rõ nét.
Nâng cao TFP và nội địa hóa không thể chỉ trông chờ vào vốn hay thị trường, mà cần được dẫn dắt bởi ba động lực chiến lược: thể chế đổi mới, liên kết chuỗi giá trị và nguồn nhân lực sáng tạo.
Trước hết, về thể chế, cần tiếp tục hoàn thiện các cơ chế thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và quản trị dựa trên năng suất. Cơ quan quản lý, điều hành cũng đã đưa định hướng lớn như xây dựng trung tâm dữ liệu quốc gia, phát triển công nghệ cao, AI, thúc đẩy chuyển đổi số toàn diện, đồng thời đẩy mạnh phân cấp, phân quyền để tháo gỡ các nút thắt thể chế. Thể chế cũng cần chuyển từ tư duy “xin – cho” sang “khuyến khích – hậu kiểm”, lấy hiệu quả năng suất làm thước đo đánh giá hoạt động của cả chính quyền và doanh nghiệp.
Về liên kết chuỗi giá trị và nội địa hóa, kinh tế tư nhân cần được đặt đúng vị trí là một trong những động lực quan trọng nhất của nền kinh tế. Song song với việc hình thành các tập đoàn tư nhân đa ngành, có năng lực cạnh tranh quốc tế, cần có cơ chế buộc doanh nghiệp FDI công khai lộ trình chuyển giao công nghệ và nâng tỷ lệ nội địa hóa theo những cam kết cụ thể. Đầu tư phát triển công nghiệp hỗ trợ, đặc biệt ở các lĩnh vực then chốt như cơ khí chính xác, linh kiện điện tử, vật liệu mới, dệt may – da giày và thiết bị năng lượng tái tạo, là yêu cầu cấp thiết. Việc xây dựng các “khu công nghiệp nội địa hóa sâu”, nơi doanh nghiệp đạt DVA trên 60% được hưởng ưu đãi về thuế, đất đai và tín dụng, sẽ tạo cú hích mạnh cho sản xuất trong nước. Đồng thời, Nhà nước cần phát triển nền tảng dữ liệu cung – cầu linh kiện quốc gia để kết nối doanh nghiệp Việt với chuỗi sản xuất toàn cầu, đưa nội địa hóa trở thành trục xoay mới của hội nhập.
Về nguồn nhân lực, con người vẫn là yếu tố quyết định năng suất. Cần triển khai hiệu quả mô hình “Ba nhà đồng hành: Nhà nước – Nhà trường – Nhà doanh nghiệp”, gắn đào tạo với nhu cầu thực tiễn của công nghiệp và kinh tế số. Giáo dục nghề nghiệp cần được đổi mới theo hướng đào tạo nghề kép, chuẩn kỹ năng quốc tế, phát triển đội ngũ kỹ sư và công nhân kỹ thuật đáp ứng yêu cầu của công nghiệp 4.0. Chính sách thu hút nhân tài khoa học – công nghệ cần gắn với kết quả đổi mới sáng tạo, thay vì chỉ dựa trên thâm niên. Song song đó, hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ trong chuyển đổi số sẽ giúp giảm chi phí, nâng năng suất và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.
TS Trần Khắc Tâm: Trong năm 2026 và các năm tiếp theo, xuất khẩu vẫn là động lực quan trọng nhất đối với tăng trưởng kinh tế. Hiện Việt Nam nằm trong nhóm 30 nền kinh tế xuất khẩu lớn nhất thế giới, kim ngạch xuất khẩu dẫn đầu Đông Nam Á. Tuy nhiên, khoảng 72% kim ngạch xuất khẩu đến từ khu vực FDI, trong khi khu vực trong nước chỉ chiếm khoảng 28%, cho thấy sự phụ thuộc khá lớn vào khối ngoại.
Ở lĩnh vực nông, lâm, thủy sản, Việt Nam đã chuyển mạnh từ sản xuất tự cung tự cấp sang xuất khẩu, với nhiều doanh nghiệp xây dựng được chuỗi sản xuất khép kín. Trong khi đó, ở các ngành công nghiệp, dù mức độ nội địa hóa đã cải thiện, một số doanh nghiệp trong nước đã làm chủ được những công đoạn phức tạp, hàm lượng công nghệ cao như khuôn mẫu, linh kiện nhựa – kim loại kỹ thuật cao, nhưng tỷ lệ nội địa hóa vẫn chỉ quanh mức 30–40%, thấp hơn kỳ vọng 50–60% của Chính phủ.
Riêng với ngành bán dẫn, mục tiêu của Việt Nam không chỉ dừng ở việc tham gia chuỗi giá trị toàn cầu, mà còn hướng tới xây dựng một hệ sinh thái công nghiệp bán dẫn hiện đại, năng động, có khả năng tự chủ và phát triển bền vững. Từ vai trò điểm đến lắp ráp truyền thống, Việt Nam đang từng bước tiến sâu hơn vào các khâu có giá trị gia tăng cao như thiết kế, đóng gói tiên tiến và sản xuất.
Vai trò của cơ quan quản lý nhà nước, các chương trình hỗ trợ và sự chủ động từ chính quyền địa phương là rất quan trọng đối với công nghiệp hỗ trợ, song nỗ lực tự thân của doanh nghiệp vẫn là yếu tố mang tính quyết định.

TS Cấn Văn Lực: Cần tiếp tục hoàn thiện thể chế và chính sách công nghiệp theo hướng xanh, giá trị gia tăng cao, ứng dụng công nghệ số, phát triển công nghiệp hỗ trợ, hạ tầng năng lượng và logistics xanh. Đồng thời, tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp nội địa và FDI, ưu tiên các dự án có tỷ lệ nội địa hóa cao, chuyển giao công nghệ và đào tạo lao động Việt Nam. Việc đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, hỗ trợ tài chính dài hạn cho các ngành công nghiệp chiến lược, đẩy mạnh chuyển đổi số, ứng dụng AI, IoT, Big Data, song song với chuyển đổi xanh và giảm phát thải, sẽ là nền tảng để công nghiệp Việt Nam nâng tầm và phát triển bền vững trong giai đoạn tới.
Xin trân trọng cảm ơn các vị khách mời!
Định hình tư duy phát triển và xác lập mô hình tăng trưởng mới
Mục tiêu tăng trưởng kinh tế bình quân giai đoạn 2026-2030 từ 10%/năm trở lên là một thách thức lớn, yêu cầu cao, đòi hỏi phải định hình tư duy phát triển và xác lập mô hình tăng trưởng mới. Đó là việc gắn với khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh; đồng thời có giải pháp, tổ chức triển khai quyết liệt, hiệu quả để phát huy tốt nhất, làm mới các động lực tăng trưởng truyền thống.
Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương đã đưa ra các kịch bản dự báo tăng trưởng. Trong đó với kịch bản kém thuận lợi, dự báo kinh tế thế giới tăng trưởng khoảng 2,9% và kịch bản rất tốt là khoảng 3,3%; lạm phát là từ 1,5% đến khoảng 3%. Các ngành lĩnh vực được dự báo tăng trưởng nhẹ với 2,9-3,1% nhưng đà phục hồi chưa chắc chắn và chưa bền vững.
Đối với Việt Nam, có ba kịch bản tăng trưởng giai đoạn 2026-2030 được đưa ra là kịch bản cơ sở tăng trưởng 7,5%, kịch bản chuyển tiếp khoảng 8,5% và kịch bản mục tiêu là 10%; tương ứng mức lạm phát là dưới 4%, 4% và 4,5%; năng suất sẽ tương ứng ở mức 8,5-9,3%.