Kinh tế Việt Nam chuyển mình ngoạn mục
Kinh tế Việt Nam đã đạt tốc độ tăng trưởng khá ấn tượng. Nếu như trong giai đoạn đầu đổi mới (1986-1990) mức tăng trưởng GDP bình quân hàng năm chỉ đạt 4,4% thì giai đoạn tiếp theo đều có mức tăng trưởng khá cao.
Kinh tế Việt Nam đã đạt tốc độ tăng trưởng khá ấn tượng. Nếu như trong giai đoạn đầu đổi mới (1986-1990) mức tăng trưởng GDP bình quân hàng năm chỉ đạt 4,4% thì giai đoạn 1991-1995, GDP bình quân đã tăng gấp đôi, đạt 8,2%/năm, các giai đoạn sau đó đều có mức tăng trưởng khá cao.
Trong 10 năm 1990-2000, tốc độ tăng trưởng GDP bình quân của đạt 7,5%. Giai đoạn 2006-2010, nền kinh tế nước ta vượt qua nhiều khó khăn, thách thức. Kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, duy trì được tốc độ tăng trưởng khá, tiềm lực và quy mô nền kinh tế tăng nhanh, nước ta đã ra khỏi tình trạng kém phát triển. Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 5 năm đạt 7%. Quy mô tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2010 đạt 101,6 tỷ USD (gấp 3,26 lần so với năm 2000).
Sang đến giai đoạn 2011-2020, kinh tế vĩ mô duy trì ổn định vững chắc, lạm phát được kiểm soát và duy trì ở mức thấp tạo môi trường và động lực cho phát triển kinh tế-xã hội.
Giai đoạn 2011-2015, tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) đạt bình quân 5,9%/năm; giai đoạn 2016-2019 ước đạt 6,8%/năm. Việt Nam trở thành một trong những nền kinh tế tăng trưởng cao nhất của khu vực và IMF đánh giá Việt Nam nằm trong Top 20 nền kinh tế đóng góp lớn nhất vào tăng trưởng toàn cầu năm 2019.
Đáng chú ý, năm 2020, dưới tác động của COVID-19, nhiều nước trên thế giới đã rơi vào suy thoái. Tuy nhiên, Việt Nam là một trong số ít quốc gia vẫn duy trì tăng trưởng dương (2,9%), bảo đảm an sinh xã hội.
Theo đánh giá của các tổ chức kinh tế trong và ngoài nước, kết thúc năm 2020, Việt Nam đã đạt được “mục tiêu kép” trong phòng chống COVID-19 và duy trì tăng trưởng kinh tế. Tạp chí The Economist tháng 8/2020 đã xếp Việt Nam trong top 16 nền kinh tế mới nổi thành công nhất thế giới.
Quy mô, trình độ nền kinh tế được nâng lên, nếu như năm 1989 mới đạt 6,3 tỷ USD/năm, thì đến năm 2020 đã đạt khoảng 268,4 tỷ USD/năm. Đời sống nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt, năm 1985 bình quân thu nhập đầu người mới đạt 159 USD/năm, thì đến năm 2020 đạt khoảng 2.750 USD/năm.
Giai đoạn tiếp theo 2021 - 2025 tăng trưởng kinh tế đạt bình quân 6,3%/năm, cao hơn giai đoạn 2016 - 2020, thuộc nhóm tăng trưởng cao của khu vực và thế giới. Quy mô kinh tế mở rộng (ước đạt 514 tỷ USD), xếp thứ 32 thế giới và thứ 4 ASEAN, gấp 1,5 lần năm 2020; GDP bình quân đầu người 5.026 USD, gấp 1,4 lần năm 2020, chính thức bước vào nhóm quốc gia thu nhập trung bình cao; quy mô thương mại quốc tế và thu hút FDI thuộc Top 20 thế giới, xuất khẩu nông sản đứng thứ 15 thế giới và thứ 2 ASEAN.
Cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng có bước tiến rõ nét: tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ trong GDP tăng từ 78,6% năm 2020 lên 80,4% năm 2025; tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo trong GDP tăng từ 23,9% năm 2020 lên 24,7% năm 2025; đầu tư công có trọng tâm, trọng điểm, hạn chế dàn trải, phát triển hạ tầng giao thông đạt kết quả ấn tượng, vượt chỉ tiêu đề ra; nhiều dự án, vấn đề tồn đọng lâu nay được quyết liệt tháo gỡ.
Tốc độ tăng trưởng kinh tế số đạt bình quân 10,45%/năm, chiếm khoảng 14,02% GDP năm 2025. Kinh tế tư nhân ngày càng năng động và vai trò rõ nét hơn (đóng góp khoảng 52% GDP, 30% thu ngân sách, tạo việc làm cho 82% lao động), bước đầu hình thành một số tập đoàn kinh tế tư nhân có quy mô lớn, có khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế, cùng tham gia kiến tạo các công trình quan trọng của đất nước.
Kỷ nguyên mới của Việt Nam được khởi đầu từ năm 2026, khi Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV với tầm nhìn mới, đặt ra nhiều mục tiêu và kỳ vọng mới, định hình tầm vóc một Việt Nam vươn mình mạnh mẽ với những cơ hội mới.
Báo cáo Chính trị và các Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XIV đã xác định các phương hướng, nhiệm vụ, biện pháp và chương trình hành động cụ thể để Việt Nam đạt được các mục tiêu cao hơn.
Theo đó, Việt Nam phấn đấu tăng trưởng GDP bình quân cho giai đoạn 2026 - 2030 từ 10%/năm trở lên; GDP bình quân đầu người đến năm 2030 đạt khoảng 8.500 USD; tỉ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo đạt khoảng 28% GDP; tỉ trọng kinh tế số đạt khoảng 30% GDP. Đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng kinh tế đạt trên 55%. Tốc độ tăng năng suất lao động đạt khoảng 8,5%/năm. Tỉ lệ huy động nguồn ngân sách trong giai đoạn 2026 - 2030 đạt 18% GDP; bội chi ngân sách khoảng 5% GDP. Tỉ lệ che phủ rừng duy trì mức 42%; tỉ lệ xử lý và tái sử dụng nước thải ra môi trường lưu vực các sông đạt khoảng 65 - 70%; lượng phát thải khí nhà kính giảm 8 - 9%; tỉ lệ các cơ sở sản xuất, kinh doanh đạt quy chuẩn về môi trường đạt khoảng 98 - 100%; tăng diện tích các khu bảo tồn biển, ven biển đạt tối thiểu 6% diện tích tự nhiên vùng biển quốc gia…


