Làm chủ nhiều kỹ thuật khó trong điều trị ung thư
Những năm gần đây, điều trị ung thư tại Việt Nam có bước tiến rõ rệt, từ phẫu thuật robot, xạ trị hiện đại, điều trị đích, miễn dịch trị liệu đến điều trị đa mô thức và cá thể hóa. Nhiều kỹ thuật chuyên sâu đã tiệm cận với các trung tâm tiên tiến trên thế giới, mở thêm cơ hội sống cho người bệnh.
Ở tuổi 66, ông Đ.V.T. được chẩn đoán mắc ung thư trực tràng thấp giai đoạn tiến triển. Trước đó, người bệnh có biểu hiện rối loạn đại tiện kéo dài nhưng chủ quan nghĩ là bệnh trĩ nên không đi khám sớm. Khi nhập viện, khối u nằm cách rìa hậu môn chỉ khoảng 4cm - vị trí được đánh giá rất khó trong điều trị ngoại khoa.
Với những trường hợp ung thư trực tràng thấp, mục tiêu điều trị không chỉ là loại bỏ khối u và nạo vét hạch theo nguyên tắc ung thư học, mà còn phải bảo tồn tối đa cơ thắt hậu môn, các bó thần kinh vùng chậu và chất lượng sống lâu dài cho người bệnh. Sau hội chẩn đa chuyên khoa, bệnh nhân được điều trị theo chiến lược đa mô thức, hóa xạ trị đồng thời trước phẫu thuật. Kết quả đánh giá sau điều trị cho thấy đáp ứng tích cực, người bệnh đủ điều kiện phẫu thuật triệt căn.
Ca phẫu thuật nội soi robot cắt đoạn trực tràng kết hợp vét hạch được thực hiện với sự tham gia cố vấn chuyên môn của chuyên gia phẫu thuật robot quốc tế cùng ê-kíp Bệnh viện K. Nhờ hệ thống hình ảnh 3D độ phân giải cao và các cánh tay robot linh hoạt, phẫu thuật viên có thể thao tác chính xác trong vùng chậu sâu, kiểm soát mạch máu tốt hơn, bóc tách sát tổn thương và bảo tồn các cấu trúc quan trọng. Ca phẫu thuật thành công, giúp người bệnh tránh nguy cơ phải mang hậu môn nhân tạo vĩnh viễn.
Theo GS.TS.BS Lê Văn Quảng - Giám đốc Bệnh viện K, phẫu thuật nội soi robot là bước phát triển cao của ngoại khoa hiện đại, giúp phẫu thuật viên thao tác chính xác hơn, đồng thời mang lại nhiều lợi ích cho người bệnh như giảm xâm lấn, bảo tồn tối đa các cấu trúc quan trọng và rút ngắn thời gian hồi phục.
Không chỉ phẫu thuật robot, nhiều kỹ thuật chẩn đoán và điều trị hiện đại cũng đã được triển khai tại các trung tâm ung thư lớn.
Thực tế cho thấy, đội ngũ thầy thuốc Việt Nam từng bước làm chủ các kỹ thuật điều trị chuyên sâu, trong khi trang thiết bị phục vụ chuyên ngành ung thư cũng đã được đầu tư. Những tiến bộ này thể hiện rõ ở ung thư vú - loại ung thư có tỷ lệ mắc mới cao nhất ở phụ nữ. Theo PGS.TS Lê Hồng Quang - Trưởng khoa Ngoại vú (Bệnh viện K), hiệu quả điều trị ung thư vú tại Việt Nam gần đây có nhiều thay đổi, tiệm cận với thế giới. Tỷ lệ sống thêm 5 năm kể từ khi phát hiện bệnh đạt khoảng 85 - 90%, nhiều người bệnh đã sống thêm trên 30 năm.
Trong các loại ung thư phổ biến, ung thư phổi vẫn là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở nam giới do đa số bệnh nhân được phát hiện muộn. Ung thư đại trực tràng, gan, dạ dày và thực quản tiếp tục nằm trong nhóm bệnh có tỷ lệ mắc cao. Riêng ung thư đại trực tràng, mới đây GLOBOCAN ghi nhận hơn 22.500 ca mắc, đứng thứ 3 ở cả hai giới tại Việt Nam.
Một thực tế đáng lưu ý là trình độ điều trị đã tiến bộ nhưng hiệu quả cuối cùng vẫn phụ thuộc rất lớn vào thời điểm phát hiện bệnh. Người bệnh ung thư trực tràng nếu đến viện muộn có thể phải đối mặt với nguy cơ tái phát, di căn hoặc phải phẫu thuật làm hậu môn nhân tạo vĩnh viễn. Người bệnh ung thư vú nếu được phát hiện sớm có cơ hội sống thêm lâu dài, thậm chí trở lại cuộc sống bình thường; nhưng nếu phát hiện muộn, quá trình điều trị phức tạp hơn nhiều.
Theo PGS.TS Đỗ Anh Tú - Phó Giám đốc Bệnh viện K, Chánh Văn phòng Hội Ung thư Việt Nam, khoảng 40% ca ung thư có thể phòng ngừa nếu kiểm soát tốt các yếu tố nguy cơ như hút thuốc lá, lạm dụng rượu bia, béo phì, ít vận động và nhiễm các virus gây ung thư như HPV, HBV, HCV. Vì vậy, phòng bệnh, tiêm chủng, xây dựng lối sống lành mạnh, tăng cường vận động và sàng lọc sớm là những giải pháp quan trọng để giảm gánh nặng ung thư.
Ông Nguyễn Tri Thức - Thứ trưởng Bộ Y tế nhấn mạnh định hướng chuyển mạnh từ tư duy điều trị sang tư duy phòng bệnh. Theo ông Thức, Luật Phòng bệnh và Nghị quyết số 72 của Bộ Chính trị đều hướng tới mục tiêu không chỉ chờ đến khi bệnh được phát hiện ở giai đoạn muộn, mà phải tăng cường truyền thông, dự phòng và phát hiện sớm.