Làng trên sóng
Tôi nhận ra người dân trong các làng bè ở Khánh Hòa có một mẫu số chung là dù không thấu rõ biển bắt đầu từ đâu mênh mông cỡ nào nhưng chẳng ai phân biệt quê hương, bản quán mà cùng sát cánh bên nhau trong những ngày bão tố, trao nhau nụ cười trong những ngày bình yên. Nghĩa làng, tình xóm càng thắm đượm hơn khi họ cùng xem biển là lẽ sống, là sự tồn tại. Dù biển có gầm gào, giận dữ, họ vẫn chung thủy không rời.
Cùng chung “mẹ biển”
Sau những thiệt hại nặng nề trước bất thường của thiên nhiên, những ngày cuối cùng của năm 2016, làng bè Nha Phu (trên đầm Nha Phu, Nha Trang) lại tấp nập trở lại. Lão ngư Lê Quốc Thành với đôi chân trần bủng nước sau một ngày ngụp lặn thở ra nhẹ nhõm cùng với vẻ mặt hân hoan. Anh bảo, Làng bè Nha Phu này có đến hàng trăm hộ dân sinh sống. Trước đây vài hộ lèo tèo sau đó thì những thợ lặn, những ngư dân từ Quảng Ngãi, Bình Định…quần tụ về đây. Chẳng mấy chốc thành làng. Chẳng khác gì các xóm, làng trên đất liền. Làng trên sóng nước cũng có số phận, có dấu ấn, có những biểu đạt và thổ lộ của riêng mình.
Mỗi khi bất thình lình có sóng dữ, điện thoại mất liên lạc bè nhà ai gặp chuyện chẳng lành sẽ phát tín hiệu cho các bè khác bằng chiếc gậy dựng ngược, đầu gậy treo chiếc áo đen phơ phất. Nếu là chuyện mừng vui, gọi nhau đến nhậu hay họp bàn chuyện gì thì treo con chim én giả bện bằng vải lên chiếc cọc cao nhất quanh căn nhà gỗ. Ai thấy tín hiệu đều tấp vào ngay, không cần do dự. Anh Thành bộc bạch: Các làng bè dập dềnh trên sóng nước này đều có chung “mẹ biển”. Cứ nghĩ mình là người cùng một nhà hết. Vụ này nhà nào thắng lợi thì treo chim én liên tục để mời anh em trong xóm đến quây quần chung vui. Nhà nào thất bát thì các bè bên cạnh lại mang cá, tôm đến cho.
Cách nhà bè của anh Thành không xa, gia đình ông Lê Văn Trình như vừa hồi sinh trở lại từ sự ấm cúng của xóm giềng. Ông Trình xúc động giãi bầy, cũng may có các anh em trong làng bè. Nếu không mùa xuân Đinh Dậu chẳng biết sẽ ra sao. Vào giữa năm 2016, gia đình có vợ và con trai trong một lần lên đất liền mua nhu yếu phẩm bị tai nạn, phải nằm viện hàng tháng. Hầu hết chi phí được làng bè gom góp mang đi thanh toán và còn tặng thêm 4 triệu đồng để ăn Tết. Sự ấm cúng đã lan tỏa trở lại.
Có những người dân khi bị trọng thương, điều kiện ngoài biển còn khó khăn, những cư dân trên làng bè xông xáo lao vào với tinh thần “thương người như thể thương thân”, người lo lái ca nô, người gọi sẵn xe cấp cứu trực ở trên bờ, người chuẩn bị tiền nong....
Mọi người ở làng bè Nha Phu vẫn còn nhớ như in trong đêm cuồng phong vần vũ của mùa mưa năm 2015, hình bóng của ông Nguyễn Minh Tường méo xẹo và như tạc sâu vào vách căn nhà gỗ đang chùng chiềng theo con nước. Do không nắm bắt kịp các thông tin thời tiết, nhà bè của ông gia cố không kịp, hai đứa con lạc theo dòng nước hun hút giữa biển đêm. Vợ chồng ông gào khóc, những giọt buồn đau như tan thấm cả vào tim gan. Nhưng rồi, cả làng chài nỗ lực kiếm tìm, hai đứa con của ông Tường đã an toàn trở về cùng với sự yên bình trở lại của sóng nước.
Nụ cười của gia đình ngư dân.
Nổi nênh mà không phiêu dạt
Bỏ lại phía sau những hoài nghi, những tự ti về việc mình là cư dân nhà bè, cư dân xóm chài, Nguyễn Thị Linh ở làng bè Trí Nguyên (Vĩnh Nguyên, Nha Trang) vươn lên học giỏi và trở thành một côn giáo đoan trang, nhiệt huyết ngày ngày truyền chữ cho những thế hệ đàn em trên đảo Trí Nguyên. Linh tâm sự, thời gian và cuộc sống chủ yếu trên sóng nước. Nhìn thì nghĩ là phiêu dạt nhưng thật sự không phải thế. Có những sợi dây kết nối rất riêng. Trong mỗi căn nhà ấy ẩn chứa những giấc mơ, những khát vọng cống hiến. Trẻ con lớn lên sẽ được gửi vào đất liền đi học lên các cấp cao hơn, cuối tuần lại về phụ gia đình nuôi tôm cá. Giữa trùng khơi vẫn là những trang vở tràn đầy kiến thức, những cái ngước nhìn về phía ngày mai ngập tràn sự tươi sáng như nắng mai”.
Cũng như các làng bè khác, làng bè Trí Nguyên cũng cộng cư nhiều quê quán khác nhau. Những con người hiền hòa, phóng khoáng ấy nhanh chóng trở thành thân thiết như ruột thịt. Bốn mùa bám vào sóng nước, nhiều phen đánh bạc với cả đại dương và thiên nhiên như là những cuộc tập rèn nghị lực. Anh Lê Văn Cường lững thững với bàn chân dị tật, đan xen cảm xúc thổ lộ, làng bè Trí Nguyên này bây giờ sống ổn rồi. Nhiều gia đình đã mua được đất đai trên đất liền. Hàng chục gia đình đã có con cái học hành đỗ đạt. Nếu không vì một sự cố, tôi cũng đã là kỹ sư, ánh mắt Cường bỗng lạc đi trong mênh mông.
Đã có những giọt nước mắt trong ngày tháng tươi đẹp xưa cũ cách đây gần 10 năm khi Cường bị nạn, chân bị hoại tử, tưởng chừng như sau đó phải đi nạng gỗ suốt đời. Nghị lực cùng với tình nghĩa gia đình, xóm giềng vực Cường dậy, nhanh chóng anh chọn con đường riêng là học tập, nghiên cứu các mô hình nuôi cá bè ngoài biển như: cá giò, cá bớp…Đồng thời anh còn bán các loại thức ăn phù hợp cho cá biển và liệu pháp phòng trị dịch bệnh. Nay, Cường đã xây dựng được tổ ấm trên đất liền với hạnh phúc nở hoa như mùa xuân viên mãn. Những người giàu nghị lực như Cường không hiếm trên các làng bè.
Chỉ có tri thức và lòng cần cù, đùm bọc mới giúp con người mở ra tương lai cho chính mình, cho mọi người. Đây là lời nhắn nhủ mang tính đúc rút của lão ngư Lê Văn Bạch sau hơn nửa đời lên đênh trên làng bè Trí Nguyên. Hàng trăm lao động trên đất liền thiếu việc, khó khăn đều được ông Bạch đưa ra làng bè chăm cá, cho cá ăn, có nguồn thu nhập gần 10 triệu đồng/tháng. Những lao động bám trụ lâu năm lại chuyển lên đất liền để ổn định cuộc sống và nghề nghiệp mới. Cuộc xoay vần kiến thiết cuộc sống cho nhau như một lẽ sống giản đơn của những ngôi làng trên sóng nước này.
Nhu yếu phẩm chở ra các làng bè đón xuân.
Đi nhớ, về thương
| Nhìn thì nghĩ là phiêu dạt nhưng thật sự không phải thế. Có những sợi dây kết nối rất riêng. Trong mỗi căn nhà ấy ẩn chứa những giấc mơ, những khát vọng cống hiến. Trẻ con lớn lên sẽ được gửi vào đất liền đi học lên các cấp cao hơn, cuối tuần lại về phụ gia đình nuôi tôm cá. Giữa trùng khơi vẫn là những trang vở tràn đầy kiến thức, những cái ngước nhìn về phía ngày mai ngập tràn sự tươi sáng như nắng mai”. |
Dẫu cuộc sống sung túc chẳng khác gì trên đất liền, những vụ nuôi trồng bội thù đã đổi đời hàng ngàn thân phận con người. Và, năm tháng trôi đi có thể mài mòn nhiều thứ nhưng ký ức của những cư dân ở các làng bè về “mẹ biển” luôn khắc sâu. Những khoảnh biển từng mướt mồ hôi đóng cọc thăm dò, xước rách bàn tay để dựng ván làm nhà trở thành một phần máu thịt của họ. Biển không chỉ là nước, là dòng chảy tự nhiên của hải lưu mà còn là nơi chứa ẩn bao thương nhớ, chứng kiến bao thăng trầm, trắc trở của những phận người bé nhỏ mà tình sâu.
Nhiều người chuyển hẳn lên đất liền định cư, làm nghề khác nhưng những làng bè trên sóng nước chính là nơi để họ thương, họ nhớ như nhớ về nơi thân thiết của chính mình vậy. Sau bao chuyến đi về, sau bao chiều day dứt và thương nhớ, mùa xuân nào ông Vũ Văn Thức cũng quay lại làng bè Trí Nguyên để hoài niệm. Ông bảo: bao chuyến ngược xuôi, không con sóng nào ám ảnh nhớ thương như sóng biển ở làng bè. Những khoảng biển đã hóa thành một sinh thể, có khả năng đánh thức hoài niệm một cách thao thiết.
Cuộc sống luôn hàm chứa nhiều bất ngờ, đôi khi chỉ biển mới hiểu. Thế nên mới có chuyện cụ bà Trần Thị Nhung, sau mấy chục năm về nơi phồn hoa phố thị nhưng mùa xuân nào cũng quay về các làng chài, làng bè trên sóng nước để đón xuân bởi ở đó có “mẹ biển”, có anh em thân thiết từ mọi miền. Một mùa xuân nữa lại về trong tiếng lao xao sóng nước. Bao mất mát, thiệt thòi ngày cũ hy vọng bay theo những lời ước vọng về những mùa bội thu để có những đoàn thuyền chuyên chở đầy tôm cá sạch, an toàn rẽ sóng vào đất liền. “Mẹ biển” sẽ mãi hào phóng, ân huệ.