Luận về cõi khác
Nhân loại trong hành trình phát triển của mình, bên cạnh việc tạo ra những giá trị vật chất, không quên tạo ra những giá trị tinh thần. Một trong những giá trị tinh thần quan trọng hàng đầu, ấy là việc thiết lập một đời sống tâm linh, một thế giới tâm linh song hành cùng thế giới thực tại của con người. Niềm tin tâm linh không chỉ xoa dịu những nỗi đau, những hao khuyết trong thực tại mà còn cho phép con người thỏa sức tưởng tượng và tiếp tục mơ ước hay nghĩ suy về một thế giới sẽ đón lấy họ khi

Ảnh minh họa.
Thiên đường
Theo Từ điển tiếng Việt (Viện Ngôn ngữ học, NXB Từ điển Bách khoa, HN, 2010), thiên đường được định nghĩa là “nơi linh hồn những người đã rửa sạch tội lỗi được hưởng sự cực lạc vĩnh viễn sau khi chết, theo một số tôn giáo”. Theo chúng tôi, khái niệm thiên đường gắn bó điển hình với Thiên Chúa giáo cùng với các chi phái khác của tôn giáo này. Theo đó, có hai cách hiểu. Thứ nhất, thiên đường gắn với sự bất diệt của linh hồn, nghĩa là linh hồn sẽ lên thẳng thiên đường sau khi chết. Ở nghĩa thứ hai, linh hồn chỉ thực sự lên thiên đường sau khi đã trải qua ngày phán xét cuối cùng, cũng gọi là ngày tận thế. Trong nhiều câu chuyện của người phương Tây, sự tưởng tượng về thiên đường của họ luôn gắn với hình ảnh thánh Pierre đứng gác ngoài cửa, chờ sẵn để đón những linh hồn đức hạnh vào cõi trời hưởng hạnh phúc đời đời. Dĩ nhiên là những người còn mắc một vài khuyết điểm vẫn có thể bị phạt đôi chút. Đối với người Việt, hình ảnh thiên đường đi nhiều vào thi ca nghệ thuật. Thiên đường có khi được đem ra để ví với tình yêu, nói về những kẻ đang đắm say ngọt ngào trong giấc mơ tình ái, chẳng hạn như trong một lời ca của Phạm Duy –Ngọc Chánh: Ngày nào cánh thiên đường, đã mở hé tình yêu là trái táo thơm. Tôi ghé răng cắn vào, miệng môi ngọt đắng, tình yêu cuối đường. Là trối trăn sau cùng, giấc mơ não nùng vội tan (Bao giờ biết tương tư). Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn cũng hơn một lần đưa thiên đường vào các ca khúc của ông. Giống như Phạm Duy, cũng có lúc thiên đường trong nhạc Trịnh là một giấc mơ tình, gắn với vẻ đẹp thanh thoát nhưng có khi vời xa của một người con gái: Môi thiên đường hót chim khuyên, ôi tóc trầm ướp vai thơm (...) Dưới thành phố kia có người nhớ em, nằm mộng suốt đêm trong thiên đường” (Cho đời chút ơn). Trong lần khác, thiên đường gắn với nỗi buồn đau, gắn với sự chia lìa vĩnh biệt một con người. Khi ấy, thiên đường hiện lên với đúng nghĩa tôn giáo của nó, là mơ ước về một cõi thanh thản, không còn sầu thương: Xin cho một người vừa nằm xuống thấy bóng thiên đường cuối trời thênh thang (Hát cho người nằm xuống). Trong âm nhạc phương Tây, cũng có một thiên đường gắn với sự chia lìa xót xa. Đó là nhạc phẩm nổi tiếng Tears in heaven (Giọt nước mắt trên thiên đường) của Eric Clapton và Will Jennings, được viết ra từ nỗi đau mất đứa con trai Conor của Clapton, khi cháu nhỏ trong một lần đi chơi cùng mẹ đã bị rơi qua cửa sổ từ tầng 53 xuống đất. Ca khúc ngay lập tức dành vị trí quán quân tại bảng xếp hạng Adult Contemporary ở Mỹ năm 1992, đồng thời giành giải MTV Video Music Awards cho giọng nam xuất sắc nhất cùng năm đó. Đến năm 2003, "Tears in Heaven" được tạp chí Rolling Stone xếp hạng 362 trong danh sách 500 bài hát vĩ đại nhất mọi thời đại. Giai điệu đẹp và lời ca da diết, xót xa đã của ca khúc đã chinh phục hàng triệu trái tim người nghe nhạc trên toàn cầu: Would you know my name?/If I saw you in Heaven/Would it be the same/if I saw you in Heaven (...)Beyond the door, there's peace for sure/And I know there'll be no more tears in heaven/Cause I know I don't belong here in heaven (Liệu con sẽ nhớ tên cha?/Nếu cha thấy con trên thiên đường ?/Liệu tình cảm sẽ vẫn như xưa/Nếu cha thấy con trên thiên đường ?... Bên kia cánh cửa, chắc chắn sẽ là nơi bình yên/Và cha biết sẽ không còn những giọt lệ trên thiên đường/Vì cha biết cha không thuộc về thiên đường). Nếu như một thế giới vĩnh hằng theo quan niệm của Thiên Chúa giáo là thiên đường thì đối với những người theo Phật giáo, lại có một định danh khác là niết bàn. Niết bàn theo cách nhìn của nhà Phật cũng là một cõi mà con người đạt được sự giải thoát, chạm vào cảnh giới cao nhất của sự giác ngộ, thoát hết được đau khổ và luân hồi. Cũng có khi niết bàn được hiểu một cách giản dị hơn, là điểm đến của những phật tử sau khi giã từ trần thế, giống như trong lời một ca khúc của Phạm Duy: Rồi mai đây tôi sẽ chết, trên đường về nơi cõi Niết/Tôi sẽ không đem theo với tôi những gì đâu/Rồi mai đây tôi hóa kiếp, trong lòng mừng không hối tiếc/Tôi sẽ không đem theo với tôi những gì đâu (Những gì sẽ đem theo vào cõi chết).
Âm phủ
Nếu như thiên đường là thế giới của hạnh phúc, sung sướng, an lạc đời đời thì đối trọng với nó là âm phủ - một không gian gắn với những khổ nạn, những hình phạt mà kẻ ác, kẻ xấu phải gánh chịu. Trong văn học của người Việt cũng như người Hán, âm phủ luôn gắn với hình ảnh Diêm vương, những tên quỷ sứ và vạc dầu. Trong bộ tiểu thuyết Tây Du Ký của Ngô Thừa Ân, nhân vật Diêm Vương xuất hiện khá nhiều lần, nhưng lần đầu tiên là gắn với cuộc “viếng thăm” của Đại Thánh, gạch hết tên các loài khỉ trong sổ tử của điện Sâm La. Bộ Liêu Trai chí dị của Bồ Tùng Linh cũng nhiều lần nhắc đến cõi âm, trong đó, cuộc sống ở cõi âm cũng hiện lên giống như cõi trần, cũng có thành quách, ngựa xe, người đi lại và buôn bán... Nhiều truyện cổ tích của người Việt đều có nhắc tới âm phủ mà điển hình nhất là các truyện Sự tích sông Nhà Bè hay là truyện Thủ Huồn và Người họ Liêu và Diêm Vương, được Nguyễn Đổng Chi chép lại trong bộ Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam. Ở truyện Thủ Huồn, cõi âm phủ được tưởng tượng ra với rất nhiều gian phòng chuyên thực hiện các hình phạt mổ bụng, móc mắt, chặt tay... Lại có cả một kho gông với các loại gông khác nhau, tùy từng mức độ tội ác mà sẽ tương ứng với loại gông to hay gông nhỏ. Ngoài sự ghê rợn của cõi âm, Diêm Vương và âm phủ còn xuất hiện trong nhiều truyện cười của người Việt với tính chất châm biếm mỉa mai, điển hình nhất có thể kể tới các chuyện: Diêm Vương thèm ăn thịt, Xin đại vương đình lại cho một đêm, Rắm quý... Hình ảnh Diêm Vương ở các truyện trên hiện lên với rất nhiều tính xấu như đạo đức giả, ngu dốt, ưa nịnh nọt v.v... Chẳng hạn có anh chàng khi chết xuống âm phủ, chỉ cần làm một bài phú Vịnh rắm Diêm Vương là được phong ngay chức đại học sĩ: Điện ngọc ngai cao/Mộng vàng rắm quý/Êm như tiếng sáo tiếng diều/Mường tượng mùi lan mùi huệ/Đã nên hương xạ thơm tho/Lại thoảng giọng đàn rủ rỉ/Có phen đại pháo nổ mừng xuân/Thật sánh được với địa lôi phá lũy/Chúa ngồi trên bệ, đã đành mở cửa năm xe/Tôi ở dưới thềm, cũng được nhờ hơi một tí.
Trong Thiên Chúa giáo, đối ứng với thiên đường là các không gian mang tên luyện ngục và hỏa ngục. Luyện ngục giống như một nơi trung chuyển, sau một thời gian chịu phạt nơi đây sẽ được lên thiên đường. Còn hỏa ngục là nơi mà ai đã bị đày xuống thì phải ở đó mãi mãi. Trong Phật giáo lại có khái niệm địa ngục, nhưng địa ngục ở đây không chỉ hiểu một cách cơ giới là không gian để trừng phạt mà còn là một trạng thái của tâm thức. Học thuyết của Ấn độ giáo thì lại chia cõi âm thành hai loại lớn là hỏa ngục và hàn ngục, gồm 8 ngục chính và 16 ngục phụ, trong đó A tì địa ngục là nơi khủng khiếp nhất bởi có nhiều nhục hình nhất.
Thủy phủ
Cả người phương Đông và phương Tây đều có những tưởng tượng về thủy phủ. Khác với thiên đường hay địa ngục, thủy phủ là nơi có duyên thì người trần gian mới có thể đến được hoặc gặp được những người ở cõi đó. Với người phương Tây, thủy phủ có thể hiện lên với lâu đài nguy nga của vua Thủy tề như trong truyện Nàng tiên cá của Andecxen. Ngoài vua, hoàng hậu, công chúa là những nhân vật thường thấy ở thủy cung, người phương Tây còn xây dựng thêm nhân vật thủy thần. Chẳng hạn trong truyện ngụ ngôn Edôp, thủy thần đã ba lần nhặt rìu cho bác mugic và rồi cuối cùng tặng cho bác cả ba chiếc rìu (rìu vàng, rìu bạc và rìu sắt) vì lòng trung thực của bác. Trong văn học Trung Quốc, thủy phủ hiện lên với hình ảnh các Long Vương cai quản. Như trong Tây Du Ký, có tất cả bốn vị gọi là Tứ Hải Long Vương, (Ngao Quảng, Ngao Khâm, Ngao Thuận, Ngao Nhuận) có nhiệm vụ cai quản bốn biển, làm mưa xuống trần gian theo thánh chỉ của Ngọc Hoàng. Thủy phủ trong tư duy của người Việt cũng là nơi ở của Long Vương. Trong truyện cổ Sự tích con dã tràng, chính Long Vương đã tìm cách mua chuộc vợ của Dã Tràng để lấy trộm hai viên ngọc. Dã Tràng sau đó xe cát hòng lấp biển và rồi biến thành con còng còng (cũng gọi là con dã tràng), để lại một câu ca: Dã tràng xe cát biển Đông/Nhọc lòng mà chẳng nên công cán gì. Trong một truyện khác, Người còn gái Nam Xương (rút từ Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ), thủy phủ lại là nơi thần tiên giúp đỡ con người. Vũ Thị Thiết vì thế trẫm mình xuống sông mà không chết, được ở lại trong thủy phủ, sau này khi Trương Sinh lập đàn giải oan bên sông thì nàng cưỡi kiệu hoa hiện về trong giây lát, nói lời tạm biệt với chồng rồi biến mất.
Có một không gian nước cũng thuộc cõi khác, xuất hiện nhiều trong thi ca của người Việt, được sử dụng như một điển tích, đó là suối vàng hay còn có các tên gọi khác là cửu tuyền, hoàng tuyền, tuyền đài. Hiểu một cách nôm na, đó là không gian của cái chết, của những người đã khuất. Nguyễn Du trong Truyện Kiều từng dùng chữ tuyền đài: Nợ tình chưa trả cho ai/Khối tình mang xuống tuyền đài chưa tan. Nguyễn Bính trong bài thơ nổi tiếng Viếng hồn trinh nữ cùng dùng chữ suối vàng: Nhưng hồn nàng tựa con thuyền bé/Đã đắm nghìn thu ở suối vàng...
Thực ra, luận về cõi khác, cũng là một cách thế để biết trân trọng và yêu hơn cõi đời thực mà mỗi chúng ta đang sống, chỉ sống duy nhất một lần...