Luận về những chú gà
Trong 12 con vật được người Việt Nam và người Trung Quốc chọn để đặt tên cho ngày tháng năm theo hệ can chi, cùng với trâu, mèo, chó, lợn; gà có thể nói là một trong những con vật quen thuộc và gần gũi bậc nhất trong đời sống sinh hoạt của người Việt. Trong những ngày cuối cùng của tháng giêng năm mới Đinh Dậu vẫn còn đẫm hơi xuân, xin được hầu chuyện độc giả để làm một cuộc viễn du với chú gà trong văn hóa và thi ca của người Việt.
Bức “Gà thư hùng” trong dòng tranh Đông Hồ.
Gà trong thành ngữ tục ngữ
Theo số liệu thống kê chưa đầy đủ, chúng tôi đã nhận thấy có tới hàng trăm câu tục ngữ, thành ngữ, ca dao của người Việt có xuất hiện hình ảnh chú gà. Gà đi vào những câu thể hiện kinh nghiệm chăn nuôi, kinh nghiệm sản xuất và đời sống của người lao động: Gà dài lưng thì tốt, chó cụt lưng thì hay; Gà đen chân trắng mẹ mắng cũng mua, gà trắng chân chì mua chi giống ấy, Chuồng gà hướng đông cái lông chẳng còn, Chớ bán gà ngày gió, chớ bán chó ngày mưa. Ráng mỡ gà, có nhà thì chống... Gà tiếp tục đi vào những câu tục ngữ, ca dao thể hiện phép đối nhân xử thế, những lời khuyên chân tình của người xưa, cũng có khi có cả những phê phán các thói hư tật xấu của con người: Khôn ngoan đá đáp người ngoài/Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau; Con gà tức nhau tiếng gáy; Gà què ăn quẩn cối xay, Chủ vắng nhà gà vọc niêu tôm...
Gà cũng phản ánh những tình trạng, những hoàn cảnh sống khác nhau của con người, có khi là sự sang trọng phong lưu: cơm gà cá gỏi; có khi là những khó khăn, vất vả, éo le: Gà trống nuôi con, Lúng túng như gà mắc tóc, có khi chỉ sự làm ăn qua quýt, thiếu nghiêm túc cẩn thận: Đá gà đá vịt; có khi chỉ việc nhầm lẫn: Nhìn gà hóa cuốc. Gà cũng đi vào tục ngữ ca dao như một phản ánh về đặc sản mang tính vùng miền: Gà Văn Cú, vú Đồ Sơn, Gà nào ngon bằng gà Cao Lãnh/Gái nào bảnh bằng gái Tân Châu/Anh thương em chẳng ngại sang giàu/Mứt hồng một lạng, trà tàu nửa cân.
Tìm về nguồn cội
Không còn nghi ngờ gì nữa, gà chính là một dấu tích điển hình của nền văn minh và văn hóa nông nghiệp. Hình ảnh gà xuất hiện nhiều trên các di chỉ trống đồng được tìm thấy trên lãnh thổ nước ta. Hiện nay, trên thế giới, các nhà khoa học đã thống kê có tới 150 giống gà khác nhau và đều xuất thân từ loài chim rừng màu đỏ có tên Red Jungle Fowl và tên khoa học là Gallus gallus.
Gà đã được con người thuần dưỡng khoảng 4000 năm trước đây, dựa trên các di vật được tìm thấy trong vùng thung lũng Indus (thuộc Pakistan ngày nay). Và điều bất ngờ nhất là, các nhà khoa học sau khi tiến hành so sánh cấu trúc di truyền của 21 giống gà đến từ nhiều quốc gia như Thái Lan, Ấn Độ, Trung Quốc, Srilanka, Việt Nam... đã đi tới kết luận rằng, tất cả các giống gà nuôi trên thế giới ngày nay đều xuất phát từ một giống gà rừng từng sống (hay được thuần dưỡng) tại những vùng đất thuộc Thái Lan và Việt Nam ngày nay. Trong tác phẩm nổi tiếng Nguồn gốc của loài (Origin os species), Darwin cũng đã khẳng định tất cả các giống gà nuôi trên thế giới đều có nguồn gốc từ gà rừng Đông Nam Á. Các tài liệu khảo cổ học của Việt Nam cho biết, đã tìm được nhiều xương gà tại một loạt các di chỉ thời kỳ hậu đồ đá như Phùng Nguyên, Gò Mun, Đồng Đậu và Hoa Lộc. Như vậy, có thể nói, gà đã được con người thuần dưỡng cách đây 8000 năm trước tại những vùng đất thuộc lãnh thổ Việt Nam ngày nay.
Gà trong văn chương người Việt
Gà đã đi vào văn chương người Việt từ những truyện cổ của thời kỳ văn học dân gian, điển hình là câu chuyện An Dương Vương xây thành Cổ Loa. Chuyện kể rằng ban ngày thành xây đến đâu, cứ đêm đến sau khi có tiếng gà gáy là thành lại sụp xuống như cũ. Nhờ sự giúp sức của thần Kim Quy, An Dương Vương mới tiêu diệt được con gà trắng thành tinh đã sống và tu luyện đến ngàn năm. Sau khi diệt xong con gà, thành ốc nhanh chóng được hoàn thành. Văn học Việt Nam thời hiện đại cho chúng ta khá nhiều câu thơ ấn tượng về gà.
Trong bài Nắng mới, tiếng gà trưa sống lại trong những hoài niệm về tuổi thơ, về người mẹ của thi sĩ Lưu Trọng Lư: Mỗi lần nắng mới hắt bên song/Xao xác gà trưa gáy não nùng/Lòng rượi buồn theo thời dĩ vãng/Chập chờn sống lại những ngày không. Chế Lan Viên cũng diễn tả nỗi nhớ quê da diết qua tiếng gà gáy: Nhớ biển miền Trung tiếng sóng đùa/Nhớ nhà cha mẹ, cảnh trường xưa/Chao ôi nhớ thế trời xanh thế/ Gà lại dồn thêm tiếng gáy trưa. Còn trong thơ Xuân Quỳnh, tiếng gà trưa vừa là hoài niệm nhưng cũng vừa là hiện tại, lấp lánh niềm tươi vui, tin yêu cuộc sống với đầy lạc quan hy vọng: Trên đường hành quân xa/Dừng chân bên xóm nhỏ/Tiếng gà ai nhảy ổ/"Cục...cục tác cục ta"/Nghe xao động nắng trưa/Nghe bàn chân đỡ mỏi/Nghe gọi về tuổi thơ (...) Cháu chiến đấu hôm nay/Vì tình yêu tổ quốc/Vì xóm làng thân thuộc/Bà ơi cũng vì bà/Vì tiếng gà cục tác/Ổ trứng hồng tuổi thơ. Sau 1975, tôi còn gặp lại tiếng gà đầy ám ảnh trong thơ tình Hồng Thanh Quang, như một nỗi khắc khoải và tiếc nuối bởi thời gian ngắn ngủi: Đêm cuối cùng ngắn biết bao nhiêu/ Ngắn hơn cả những ngày hạnh phúc/Ta chưa dứt câu ca mà tiếng gà quái ác/Vội cướp linh hồn bài hát của ta đi... (Đêm cuối cùng anh sẽ hát em nghe, 1995).
Gà cũng đi vào nhiều ca khúc của người Việt, từ những bài hát thiếu nhi dễ thương, nhí nhảnh như: Đàn gà trong sân (nhạc Pháp lời Việt), Gà gáy (Dân ca Cống Khao), Gà trống, mèo con và cún con (Nhạc và lời: Thế Vinh), Gà trống thổi kèn (Nhạc và lời: Lương Bằng Vinh) cho đến những ca khúc trữ tình sâu lắng. Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã hơn một lần đưa tiếng gà trưa vào những ca khúc của mình: Về trên phố cao nguyên ngồi/Tiếng gà trưa gáy khan bên đồi/Chợt như phố kia không người/Còn lại tôi bước hoài (Lời thiên thu gọi), Em ra đi nơi này vẫn thế/ Lá vẫn xanh trên con đường nhỏ/Vườn xưa vẫn có tiếng me ru/Có tiếng em thơ, có chút nắng trong tiếng gà trưa (Em còn nhớ hay em đã quên).
Món ngon đất Bắc
Trong mâm cơm ngày giỗ, ngày lễ tết của người Việt đã từ lâu không thể thiếu vắng món thịt gà. Thế nhưng, nói về đặc sản gà đất Bắc không thể không nhắc tới gà Đông Hồ và gà Đông Cảo.Gà Đông Hồ còn gọi tắt là gà Hồ ở làng Lạc Thổ, thị trấn Hồ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh nổi tiếng với trọng lượng siêu khủng. Một con gà Hồ khi còn sống, tương truyền có thể nặng tới 7-8kg, tương đương với hai con ngỗng lớn. Gà Hồ chỉ nuôi theo dạng thả vườn và ăn thóc, ăn ngô chứ không ăn cám công nghiệp. Luộc gà Hồ phải dùng nổi 100 lít để tạo các dáng, thế đẹp cho gà. Sau khi sôi phải tắt bếp để gà tự chín, tránh việc nứt da xấu dáng. Gà Hồ khi bày lên bàn thờ có vẻ đẹp bệ vệ uy nghi như một con đại bàng xòe cánh. Nuôi gà Hồ thậm chí trở thành một nghi lễ khi cả làng phải bình bầu và chọn ra trong từng năm xem ai xứng đáng được nuôi gà để chú gà ấy sẽ là phẩm lễ dâng cúng trong ngày hội làng, còn gọi là lễ khao trầu. Nổi tiếng sau gà Hồ là gà Đông Cảo ở xã Đông Tảo, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên cũng là giống gà có trọng lượng lớn. Gà Đông Tảo trong thời kỳ trước có trọng lượng tối đa lên tới 7kg. Hiện nay, trọng lượng trung bình của gà Đông Tảo giữ ở mức 5kg. Có một giai thoại thời chống Mỹ về gà Đông Tảo được kể lại rằng, khách ở xa đến ngủ qua đêm tại làng, bỗng đâu khuya vắng nghe thấy những bước chân rầm rập như duyệt binh, ngỡ rằng dân quân xã tập luyện. Ngờ đâu nhìn ra, chỉ thấy một bầy gà nhà ai quên cài then chuồng, đang "hành quân" trong một ngõ nhỏ...
Vỹ thanh
Tả tướng quân Lê Văn Duyệt lúc sinh thời có cho rằng con gà là loài có đủ năm đức: Văn, Vũ, Dũng, Nghĩa, Tín. Hồ Chủ tịch cũng hơn một lần đưa chú gà vào tập Nhật ký trong tù, từ câu đầu của bài Tảo giải (Gà gáy một lần đêm chửa tan) đến việc dành riêng một bài thơ cho đề tài tiếng gà, chính là bài Thính kê minh (Nghe gà gáy) mà chúng tôi muốn dùng để khép lại bài viết này: Ngươi tuy chỉ một chú gà thường/Báo sáng ngày ngày tiếng gáy vang/Một tiếng toàn dân bừng tỉnh mộng/Công ngươi đâu có phải là xoàng (Nam Trân dịch).