Một bài báo cách đây 83 năm
Vâng đó là bài báo của cụ Nguyễn Công Tiễu in trên Tạp chí Khoa học số ra ngày 1/2/1934.
(Ảnh minh họa).
Nhà khoa học Nguyễn Công Tiễu (1892-1976) sinh ra tại làng Trà Bồ, xã Phan Sào Nam, huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên. Thuở nhỏ ông học chữ Nho trước khi học chữ Quốc ngữ. Do gắn bó với đồng ruộng nên ông tự đặt tên chữ cho mình là Minh Nông, có nghĩa là gà gáy sáng gọi nhà nông dậy ra đồng. Ông tốt nghiệp trường Cao đẳng Nông Lâm từ năm 1912 và từ đó lấy hoạt động khoa học và phổ biến khoa học gắn liền với bà con nông dân của nước ta. Thấy được sức lan tỏa của hình thức phổ biến kiến thức khoa học qua báo chí, Nguyễn Công Tiễu quyết định ra cùng lúc 2 tờ báo là “Khoa học tạp chí” cho đối tượng rộng rãi và “Vệ nông báo” dành riêng cho nông dân....
Ông là người sáng lập ra “Khoa học tạp chí” từ năm 1931 và tự viết nhiều bài cho tờ báo với mong ước đem ánh sáng khoa học đến với đông đảo quần chúng lao động. Báo Khoa học ra được 232 số, số cuối cùng vào tháng 8 năm 1941.
“Khoa học tạp chí” là tờ báo đầu tiên Nguyễn Công Tiễu đảm nhận trách nhiệm. Vậy mà, đầu thế kỷ, lực lượng các nhà khoa học còn mỏng, nói như ai đó là các nhà khoa học chỉ đếm được trên đầu ngón tay, vì vậy ông phải bao sân hết thảy. Thủy Tiên trang, nhà riêng của ông trở thành trụ sở Tòa soạn. Nguyễn Công Tiễu lại đem tài sản của gia đình ra thế chấp và vay nặng lãi để làm báo. Thật đúng là “đã mang lấy nghiệp vào thân”. Không có tiền thuê người làm, một mình Nguyễn Công Tiễu đảm nhiệm tất cả công việc từ chủ nhiệm, chủ bút, phóng viên, biên tập viên cho đến cả người sửa morat. Các công việc thuộc lĩnh vực trị sự như cân đối thu chi, trả nhuận bút cho cộng tác viên cũng đều do một tay ông thực hiện. Thậm chí, tiếp đón bạn đọc bốn phương về tòa soạn để hỏi các vấn đề, xin hỗ trợ chuyên môn ông cũng chẳng từ nan. Cái thuở ban đầu ấy, viết báo khoa học nào đâu đã rõ ràng như ngày nay. Hành văn còn là một thứ văn chương biền ngẫu lòng thòng như rau muống, thuật ngữ chuyên môn còn chưa có.
Mỗi bài báo viết ra, tác giả phải vật lộn với thuật ngữ, với ngôn từ cho phù hợp với đại chúng đông đảo, mà phần đông là mới qua xóa mù chữ. Vậy nhưng, nhà báo Nguyễn Công Tiễu không nản chí, ông vừa đặt mua các loại sách báo khoa học từ bên Pháp sang, vừa vắt óc suy nghĩ dịch ra các thuật ngữ chuyên môn gần gũi với bạn đọc, để phù hợp với đối tượng bạn đọc mua báo của mình. "Hoàng thiên bất phụ hảo tâm nhân". Ông trời không phụ tấm lòng hảo tâm của con người có ý chí. Tờ “Khoa học tạp chí” duy trì được chẵn 10 năm, từ 1931 đến tháng 8/1941, thì mới phải đóng cửa. Lý do là bởi đôi mắt ông Nguyễn Công Tiễu đã lòa. Đó là hậu quả từ những tháng ngày miệt mài truy tìm bí mật của bèo hoa dâu dưới ống kính hiển vi và những đêm cặm cụi sửa bản in thử báo với những con chữ nhỏ li ti dưới ánh đèn đêm khuya để kịp đưa tới nhà in, ra báo... Tuy nhiên, tâm huyết dành cho tờ báo khoa học của ký giả Nguyễn Công Tiễu được đền đáp. Nhiều bạn đọc đã háo hức đón đợi tờ báo Khoa học tạp chí của Nguyễn Công Tiễu.... Thư viện Quốc gia Pháp vẫn lưu trữ các công trình nghiên cứu đã đăng của cụ Tiễu trên tạp chí khoa học rất có giá trị thời đó.
Ông là người đầu tiên có bài khảo cứu về Bèo hoa dâu gửi đến Hội nghị khoa học Thái Bình Dương mở rộng và đã được đăng trong kỷ yếu của Hội nghị. Ông cũng là người Việt Nam duy nhất có mặt trong Hội đồng nghiên cứu khoa học Đông Dương. Ông có điều kiện đi đến nhiều nơi trên thế giới và đến đâu ông cũng quan sát, tìm kiếm các giống cây mới, các kỹ thuật canh tác để đưa về áp dụng ở nước ta. Ông là người tìm ra cách thuộc da rắn, cách nhuộm màu cho thuỷ tinh, cách làm nước hoa bằng thảo dược… Các tác phẩm khoa học của ông là Những kỳ quan vũ trụ (1929), Những điều bí mật về Bèo hoa dâu (1934), Khảo cứu về Bèo hoa dâu (1934). Về già, mặc dù tuổi cao, mắt đã lòa, những nhờ có trí nhớ kỳ diệu, cụ vẫn tiếp tục nghiên cứu khoa học. Cụ đã đọc cho thư ký viết tập sách “Xem cây mọc dại biết loại đất hoang”, tập sách có tới 171 loại cây cỏ, với đủ tên Việt và tên khoa học… Tự vịnh về cuộc đời mình, cụ viết: “Chí làm khoa học không già/ Trở về vườn cũ vẫn là khuyến nông”...
Sau khi bị loà cụ học cách sử dụng chữ nổi và tiếp tục nghiên cứu khoa học. Cụ được bầu làm Chủ tịch Hội người mù và là người nỗ lực cổ vũ việc học chữ nổi cho người mù.
Thật may mắn là con cháu cụ còn lưu giữ được khá nhiều tờ Khoa học mà cụ là người sáng lập. Lật từng trang báo thấy biết bao tâm huyết mà cụ muốn gửi đến dân chúng với những lời khuyên bảo rất chính xác và sẽ còn mãi giá trị với thời gian.
Bài báo mà tôi nhắc đến trên đây có đầu bài là “Đồ mã , đã bỏ”. Cụ Tiễu đã viết: “ Hôm nay là mười tám tháng chạp rồi. Chỉ mười hai ngày nữa thì đã Tết. Tết nhất đã sau lưng, ông vải thì mừng con cháu thì lo. Lo gì?-Lo tiền để may quần áo mới, đóng góp họ hàng, làng nước để sắm thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ, để mua tranh, pháo và nhất là để thửa mũ Thổ công, vàng hoa, nón giấy, tức là các đồ mã thờ Tết…
Hẳn những người đã biết rằng xe ô tô chạy bằng máy, máy chuyển nhờ dầu xăng, xy lanh, pít tông…Không thể nào tin được việc dùng ô tô giấy. Những người dùng đèn điện cũng vậy, đã biết rằng cái bóng đèn phải hợp vào với sức điện thì máy cháy, không thể tin anh thợ mã có tài gì mà làm cho giấy hoá pha lê. Đã không tin mà phải cưỡng bách phải dùng, thiết tưởng thật có hại cho việc thờ cúng tổ tiên, là một việc ta chẳng muốn cho hạng thiếu niên lãnh đạm. Hại vì rằng họ đã biết đồ mã là đồ giả, dùng đồ mã là một việc tin nhảm, thờ cúng tổ tiên là ở lòng thành, thực muốn giả ơn người trước. Nếu đem đồ giả dùng vào việc thực thì sao khỏi có hại. Dùng đồ mã đã hại về đường tinh thần lại còn về đường vật chất. Vì nó mà nhiều người phải chạy ngược chạy xuôi, cơm không có đủ ăn, áo không có đủ mặc. Thế mà phải lo tiền sắm đồ giấy thì có ngược đời không? Nếu sắm đồ giả mà ông vải được dùng thật thì cũng cam tâm, nhưng quả là không dùng được. Tôi nói cả quyết như vậy, rồi có người quá tin ở những sự hoang đường bẻ tôi rằng: Lấy gì làm bằng cớ mà dám nói cả quyết đồ mã đốt xuống âm phủ không dùng được?
Tôi xin giả nhời trước và xin hỏi lại rằng: Lấy gì làm bằng cớ mà dám nói đồ mã đốt xuống âm phủ có dùng được? Kẻ nói đi, người nói lại như thể cưa rơm. Âm dương cách biệt nào lấy đâu là chân lý? Nhưng ai cũng trông thấy cái thực sự ở trước mắt mọi người là , đang buổi đồng tiền khó kiếm, cách sinh nhai eo hẹp, khắt khe, không có áo mặc rét, không có cơm ăn no, thế mà chả lo tiền mua vải, đong gạo, lại phí của sắm đồ mã đồ giấy. Của mồ hôi nước mắt trong khoảnh khắc thành ra đám tro tàn. Trong cảnh thương tâm ấy, giá mà ông bà, ông vải ta có khôn thiêng chăng nữa cũng phải vì lòng thương con cháu mà về báo mộng cho ta biết rằng: đến Tết thấy con cháu nheo nhếch chạy tiền sắm mã như thế các cụ cũng đau lòng lo thay cho con cháu, chứ chẳng mừng đâu. Dù âm, dù dương lẽ phải vẫn là một, cớ sao ta không theo lẽ phải mà lại cứ thiên về thói dị đoan?”
Xin nhắc lại đây là bài báo cụ Tiễu đã cho in cách đây 83 năm. Hoàn cảnh bấy giờ có khác. Dân ta còn nghèo túng hơn hiện nay. Nhưng sự mê tín, dị đoan, phí tiền mua sắm hàng mã thì bây giờ còn tệ hại hơn nhiều so với khi xưa. Chúng ta thấy không chỉ có quần áo, mũ mão, ô tô, bóng điện mà còn sắm cả biệt thự, tủ lạnh, máy điều hoà, máy tính, ti vi, điện thoại thông minh, iPad, và rất nhiều đồng đô la in y như thật… Nghĩ thật đau lòng. Nếu tính số tiền bỏ ra trong dịp Tết và trong cả năm thì không biết đến bao nhiêu tỷ đồng?
Ai cũng biết rằng nước ta có dân số đứng thứ 13 trên thế giới, nhưng GDP tính theo đầu người ở mãi thứ hạng 133 (!), năng suất lao động chỉ bằng 1/3 so với các nước ASEAN, thiên tai và biến đổi khí hậu luôn đe doạ cuộc sống của hàng triệu người, đa số nông dân còn nợ nần và vô cùng khó khăn khi chẳng may bị đau ốm… Vậy mà từ thành thị đến thôn quê người ta vẫn đua nhau đốt vàng mã. Tại các đền chùa đều phải xây những lò đốt vàng mã thật đồ sộ mới đáp ứng nổi số hàng mã được đốt trong các ngày lễ, ngày Tết.
Nhân đón Tết Nguyên đán thiết nghĩ chúng ta hãy cùng nhau đọc lại bài báo của cụ Tiễu in cách đây những 83 năm và cùng suy ngẫm xem chúng ta có nên phát động phong trào hạn chế đốt vàng mã, một phong tục lạc hậu, phản khoa học và thật vô cùng tốn kém này. Người lớn, người hiểu biết khoa học phải làm gương cho lớp trẻ và những người còn ít học. Đấy không hiểu có nên là công việc cần tham gia của Tổ chức Mặt trận các cấp hay không?