Nắm bắt thời cơ
Chỉ còn nửa tháng nữa, hơn 90 triệu người dân Việt Nam sẽ nắm tay gần 600 triệu người dân của các nước trong khu vực để đi vào một Cộng đồng ASEAN. Từ nay đến đó thật sự không còn nhiều thời gian và chúng ta đã chuẩn bị nhiều, chuẩn bị từ lâu để có bước vào cộng đồng chung với một tâm thế thật tích cực, chủ động. Nhưng, như thế liệu đã là đủ so với những gì chúng ta đang chuẩn bị đối diện trong một cộng đồng hơn 620 triệu dân với GDP đạt 2,57 nghìn tỉ USD vào năm 2014?

Doanh nghiệp với năng lực cạnh tranh thấp sẽ khó có khả năng tham gia
vào chuỗi cung ứng có giá trị cao và lợi nhuận tốt.
Cuối tuần qua, trong một hội thảo trước thềm gia nhập Cộng đồng kinh tế ASEAN Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh sau khi nêu bật những cố gắng của Việt Nam đã cho rằng: So với nhiều nước ASEAN, chúng ta đã chậm cả về nhận thức lẫn hành động cụ thể. Theo điều tra mới đây của một số học giả trong nước và của Ban Thư ký ASEAN, nhận thức về Cộng đồng ASEAN, về cơ hội và thách thức từ việc hình thành Cộng đồng ASEAN trong doanh nhân, sinh viên và người dân nước ta nói chung ở mức thấp, nhất là so với các nước Singapore, Thái Lan và Malaysia.
Làm gì và làm như thế nào để bứt phá, để hội nhập vào Cộng đồng ASEAN một cách thực sự chủ động để không bị rơi vào thế bị động của người đi sau- đây là điều mà nhiều chuyên gia đã nói tới. Chỉ nói riêng trong lĩnh vực kinh tế và sự hội nhập của DN Việt- vấn đề được bàn thảo nhiều nhất hiện nay - thì thấy, cơ hội có nhiều nhưng liệu DN của ta có nắm bắt thành công thời cơ hay lại để vuột mất!?
TS Vũ Tiến Lộc, Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) trong một hội thảo về Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) diễn ra hôm 13/12 đã cho rằng: Cơ hội cho doanh nghiệp khi AEC hình thành đó là mở ra nhiều thị trường cho doanh nghiệp, tạo khí thế và động lực mới cho doanh nghiệp…
Với không gian thị trường khá lớn, GDP dự kiến sẽ đạt 4,7 nghìn tỉ USD vào năm 2020 và có tiềm năng trở thành nền kinh tế lớn thứ tư trên thế giới vào năm 2030 chắc chắn sẽ mở ra rất nhiều cơ hội mới cho các doanh nghiệp Việt Nam. Hơn thế nữa, Việt Nam còn là điểm kết nối giữa AEC với các nước EU, các nước tham gia TPP (thông qua hiệp định thương mại tự do), điều mà rất ít nước trong khối ASEAN có được. Nhưng cơ hội rồi thì sao khi vẫn còn đó nhiều nỗi âu lo.
Tuy nhiên AEC cũng mang lại nhiều thách thức như doanh nghiệp sẽ phải cạnh tranh hàng hóa vô cùng lớn khi trình độ phát triển dịch vụ thấp hơn và sự thách thức trong sự lưu chuyển lao động, quản lý dòng vốn. Đương nhiên, nếu không có nhiều cơ hội, chả ai dại gì mà đồng lòng hiệp sức để hội nhập. Và, các quốc gia trong ASEAN khi mong muốn cùng nhau thành lập AEC tức là cùng nhau mong muốn mở rộng thị trường cho các mặt hàng xuất khẩu; tạo điều kiện đầu tư; tạo việc làm; thúc đẩy cải cách kinh tế trong nước theo hướng hiệu quả.
Với ASEAN-AEC đó còn là mong muốn cụ thể hơn nữa với tham vọng một thị trường chung và không gian sản xuất thống nhất; một khu vực kinh tế cạnh tranh; phát triển kinh tế đồng đều; hội nhập với nền kinh tế toàn cầu. Nói tóm lại, toàn những ý tưởng lớn, quan trọng với các quốc gia thành viên; nhưng vì là lớn nên rất có thể nó sẽ chỉ là “sân chơi” cho những “người khổng lồ” trong khối; chứ chưa chắc đã có chỗ cho những ai không chịu bứt phá.
Các chuyên gia nhận định, đi kèm với các cơ hội lớn thì thách thức cũng lớn tương ứng. Thách thức ấy với Việt Nam và những nền kinh tế nhỏ bé trong khối sẽ nằm ở những cơ hội như: Không có hàng rào thuế quan; sự lưu chuyển tự do của hàng hóa, dịch vụ, đầu tư, vốn, và tay nghề người lao động- nói chung, toàn những thách thức rõ tên, rõ địa chỉ.
Vụ trưởng Vụ ASEAN (Bộ Ngoại giao) Nguyễn Hồng Cường cho rằng, rồi đây, các doanh nghiệp cũng sẽ phải cạnh tranh quyết liệt, thậm chí ngay tại thị trường Việt Nam; một số doanh nghiệp với năng lực cạnh tranh thấp sẽ khó có khả năng tham gia vào chuỗi cung ứng có giá trị cao và lợi nhuận tốt. Và, cả với người dân cũng thế, sẽ phải cạnh tranh kiếm việc làm có tay nghề, ngay trên quê hương mình.
Chỉ ra một số hạn chế của DN Việt, TS Phạm Thu Hằng, Tổng Thư ký VCCI cho rằng, DN tư nhân ở Việt Nam có quy mô nhỏ, manh mún, mang nặng tính gia đình, tính liên kết lỏng lẻo. Quy mô nhỏ và không chính thức, cản trở việc tăng năng suất thông qua tính hiệu quả và chuyên môn hóa. Cũng vì quy mô nhỏ, vốn đầu tư chưa lớn nên tầm nhìn cũng trở nên ngắn hạn- tác động ngược trở lại chủ yếu từ quy mô và đồng vốn- điều này sẽ cản trở DN nhỏ và vừa trên con đường tự bơi ra biển. Mức độ tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu vẫn còn thấp. Rồi thì, nhận thức của các DN Việt Nam về các cam kết kinh tế, thương mại mới vẫn còn mơ hồ lắm.
Vẫn bà Hằng cho biết, cuộc khảo sát DN của VCCI và một số tổ chức khác cho thấy có vẻ như các DN Việt Nam đang rất lạc quan với triển vọng các FTA mang lại nhưng hầu như chưa nhìn thấy mặt trái của nó. Đa số DN nhìn nhận ASEAN như cơ hội tiếp cận thị trường, gia tăng xuất khẩu, mà lợi ích này trong ASEAN là tương đối hạn chế. Trên thực tế, việc kết nối một “thị trường và cơ sở sản xuất thống nhất” mới là mục tiêu chính của ASEAN và là lợi ích dài hạn mà các DN trong ASEAN cần nhắm đến.
Đó là nói chuyện của các DN nhỏ và vừa; còn các DN lớn thì sao? Dường như, dù tiềm lực lớn nhưng tầm nhìn của nhiều DN trong số này lại chưa thực sự lớn.
Một vị Đại sứ Việt Nam tại một nước thuộc Trung Đông-châu Phi hôm mới rồi có kể câu chuyện mà nghe xong nhiều người cảm thấy chua chát. Số là, tại một nước nọ ở khu vực Trung Đông-châu Phi sắp diễn ra hội chợ du lịch. Có vài công ty Việt Nam định mở gian hàng tại đây. Vị Đại sứ Việt Nam ở nước sở tại, bằng kinh nghiệm của mình, đề xuất 3 công ty lớn hợp sức tổ chức một hoạt động văn hóa để tăng tính hấp dẫn của gian hàng và đem lại hiệu quả quảng bá cao.
Kết quả của đề xuất ấy là 3 công ty hợp sức tổ chức một gian hàng đúp, tiết kiệm được 1 gian hàng nhưng… chả có ý định hoạt động gì về văn hóa giúp cho gian hàng sôi động thu hút nhiều bạn bè quốc tế. Có lẽ, với 3 “ông lớn” ấy việc tiết kiệm tiền tổ chức hội chợ du lịch tận tít Trung Đông đã là sáng kiến lớn lắm rồi; mà quên mất việc… kết quả của hậu hội chợ mới quan trọng.
Sẽ có bao nhiêu hợp đồng du lịch được ký kết, đem về lợi nhuận bao nhiêu, từ sức hấp dẫn của các sản phẩm văn hóa, du lịch Việt thì chả ai quan tâm. Một ví dụ thôi, để thấy, đến DN lớn còn thế, trách chi những DN “tí hon”. Và, vì thế, lúc này, khi mà AEC sắp sửa có hiệu lực chính thức cùng với Cộng đồng ASEAN, người ta vẫn phải nói đến chuyện thay đổi tư duy từ kiểu “tiểu nông” sang kiểu đặng đừng.
Nỗi lo DN Việt thua trên các chiến trường, không hiểu chính các DN đã thấm đến đâu? Nhưng thêm một cảnh báo nữa hy vọng không thừa.