Báo Đại Đoàn Kết Tinh hoa Việt

Nay ai, mai tôi

Báo Đại Đoàn Kết Tăng kích thước chữ

Nay ai, mai tôi

Báo Đại Đoàn Kết trên Google News

“Nay ai, mai tôi” là một cụm từ rất đơn giản, nhưng không dễ hiểu. Tuy chỉ cấu tạo có 4 từ nhưng ý tứ, ngữ nghĩa thật quá sâu sắc, quá mênh mông bao la. Nhiều người đã hiểu theo nhiều cách khác nhau, có khi trái ngược nhau, có khi mâu thuẫn đối chọi nhau, nhưng khổ một nỗi ai cũng có lý, ai cũng có phần đúng. Suy đi, nghĩ lại thì hóa ra 4 từ này được cấu tạo bởi 4 yếu tố hết sức rộng, hết sức mơ hồ, hết sức không giới hạn, đó là: Nay và Mai, Ai và Tôi. Vì thế, chỉ nên giới hạn trong 2 nghĩa thôn

1. Niềm hy vọng, niềm mơ ước thông thường hoặc xa vời.

2. Sự dự phòng, sự thận trọng cho một tương lai gần, cho một tương lai xa.

1. Niềm hy vọng, niềm mơ ước thông thường hoặc xa vời:

Napoléon đệ Nhất là một danh tướng của mọi thời đại, ấy thế mà ông rất tâm lý, hiểu rất rõ ước mơ, khao khát của những người lính dưới quyền ông. Napoléon nói: “Không có anh binh nhì nào lại không có một ước mơ là có một ngày mình sẽ trở thành Đại tướng”. Napoléon đã đúng, vì ông đã nắm được quy luật tư duy: “Nay ai, mai tôi” mà. Cái ước mơ của anh binh nhì sẽ trở thành Đại tướng là một ước mơ chính đáng, là một hoài bão cụ thể. Đây là những đề tài vô tận của triết lý nhân sinh. Có người khuyên chỉ nên ước mơ những cái nho nhỏ cho dễ phấn đấu, cho nó dễ trở thành hiện thực, chớ nên mơ tưởng hão huyền, chớ nên “trèo cao có ngày ngã đau”. Những ngày ta khao khát, những đêm ta mất ngủ chờ đợi việc này việc kia mới chính là những phút giây hạnh phúc nhất của con người.

Đúng như Edmond Rostand (1868 – 1918) đã nhận xét rất tài tình: “Chính cái lúc còn ở trong đêm tối mà tơ tưởng đến ánh sáng, người ta mới thấy đẹp” (C'est la nuit, qu'il est beau de croire ā la lumière). Hoan hô lý thuyết “Nay ai, mai tôi” đã là nguồn thức ăn vô tận cho những ai muốn thay đổi số phận, muốn vượt lên chính mình, muốn một ngày mai tốt hơn, đẹp hơn ngày hôm nay.

Muốn thế, con người phải luôn tự nhắc mình: “Phải từ từ, thong thả, thận trọng từng bước, từng bước” như lời dạy của bậc thày Pubilius Syrus thời cổ đại (Thế kỷ thứ nhất sau Công nguyên) là: “Nếu anh muốn lên được chỗ cao nhất thì hãy khởi sự từ chỗ thấp nhất” (If you wish to reach the highest, begin at the lowest). Thậm chí đối với những người đã có một chút từng trải ở đời, đã có một số vốn sống sau những cọ sát, va đập với Trường Đời, họ đã khôn ngoan lùi lại, dừng lại để suy ngẫm lời dạy khôn ngoan và từng trải của Triết gia Terentius (sinh năm 190, mất năm 159 trước Công nguyên): “Vì không thể làm được những gì anh ao ước, anh hãy nên ao ước những gì anh có thể làm được” (As you cannot do what you wish, you should wish what you can do). Như thế mới là hợp tình hợp lý, như thế mới là từng trải để tránh khỏi cảnh vô duyên, mất sức, mất công, mất thì giờ trong cái cảnh mà La Fontaine đã từng chế riễu: “Trong giấc mộng vàng, con chồn đếm chăm chú những con gà nó mới tóm được” (A sleeping fox counts hens in his dreams). Khổ thay, sau những giấc mộng vàng ấy, tay không vẫn hoàn tay không.

Có người lại tìm thấy sự thảnh thơi, an nhàn trong cuộc sống bằng cách xa lánh những gì quá cao siêu, quá ảo tưởng mà luôn nghĩ đến cái thiết thực hàng ngày, vừa với tầm tay của mình, hợp với sức lực, khả năng, trí tuệ mà mình đang có. Bằng cách suy nghĩ hợp lý này, con người trở nên thiết thực hơn, dễ chịu hơn vì không phải chịu áp lực quá lớn bởi những viển vông, bởi những ảo mộng trong khi cái nhu cầu thực tế là cái có thể đạt được thì chỉ cần rất ít. Đúng như nhà Triết học người Thụy sỹ, ông Johan Caspar Lavater (1741 – 1801) đã giúp chúng ta phân biệt cái nhu cầu thực tế và cái mơ ước viển vông khi ông viết: “Những ước muốn thực tế của con người thì ít nhưng cái ảo tưởng hão huyền thì lại bao la quá” (How few our real wants and how vast our imaginary ones). Tội nghiệp thay cho những ai suốt đời mơ tưởng đến những ảo ảnh không có thật, quá sức của anh ta và sau khi dùng mọi cách để đạt được thì cuối cùng vẫn “nước lã ra sông”, vẫn “của thiên giả địa”.

Với những người này, bậc thày Triết học người Anh, ông George Bernard Shaw (1856 – 1950) trong tác phẩm nổi tiếng “Con người và siêu nhân” (Man and superman) đã chỉ rõ: “Có hai bi kịch trong cuộc đời: một là không đạt được điều mình ước muốn, hai là đạt được điều mình ước muốn” (There are two tragedies in life: one is not to get your heart's desire, the other is to get it). Trong 100 năm qua mệnh đề triết học quá lý thú, quá thực tế mà lại mang màu sắc triết lý cấp cao này của Bernard Shaw đã làm tốn kém bao nhiêu giấy, bao nhiêu mực để bàn cãi, để tranh luận. Chỉ biết rằng sau những Hội thảo Quốc tế, Quốc gia, trong nội bộ một câu lạc bộ, một khoa ở trường Đại học, tất cả mọi người, từ anh sinh viên tuổi còn trẻ với đôi mắt mở to quan sát cuộc đời, đến ông giáo sư già lưng đã còng, đều thốt lên thán phục: “Đúng quá, giỏi quá, thế mới là Bernard Shaw chứ !”.

Chao ôi, cho dù cứ nói mãi về phải trái đúng sai thì cái lý thuyết “Nay ai, mai tôi” vẫn cứ luôn hấp dẫn, luôn nóng hổi vì nó là bản năng sinh tồn của con người, nó là ham muốn, nó là dục vọng, nó là khát khao, nó là tất cả. Vấn đề ở chỗ: cần cân nhắc, lựa chọn cho vừa với khả năng của mình thì sẽ không vấp ngã, không thất bại.

2. Những dự phòng, dự báo quan trọng dựa vào lý thuyết “Nay ai, mai tôi”:

- Ta đến bệnh viện thăm một người bạn bị nhồi máu cơ tim đã được cứu sống nhưng vẫn phải nằm bất động, người rất yếu. Vợ bạn kể lại quá trình cấp cứu thế này, thế kia. Tự nhiên trong đầu óc các khách đến thăm, ai cũng chợt giật mình nghĩ đến cái lý thuyết “Nay ai, mai tôi” thì sao? Thôi về nhà lần này phải quyết tâm bỏ thuốc lá, giảm ăn mỡ, tập đi bộ hàng ngày nhé. Như thế cái lý thuyết “Nay ai, mai tôi” đã được ghi điểm 3 cộng (+ + +) vì nó dạy bảo con người quá hiệu quả, không cần nói nhiều, không cần lý thuyết dài dòng vì sau khi rời khỏi bệnh viện, ai cũng giật mình vì “trông người lại nghĩ đến ta”.

- Trên báo An ninh Thủ đô đăng tin một ông cán bộ về hưu đi nhà nghỉ xả hơi sau những tháng năm vất vả. Chỉ đáng tiếc ông ấy vào mà không ra nữa, xe máy, quần áo, ví tiền đều bị “đối tác” vơ sạch, ông chỉ còn có mỗi cái quần đùi khi đưa vào nhà xác. Nhà nghỉ đột nhiên vắng hẳn các khách trung niên, chắc ai cũng giật mình nghĩ đến cảnh chỉ còn mỗi cái quần đùi mà khiếp sợ. Có người định hỏi tư vấn y tế trên đài, trên báo về việc làm sao tránh được cảnh có vào nhà nghỉ mà lại không có ra. Song nghĩ lại, nghĩ đi, lại thôi, sợ xấu hổ, sợ người ta đánh giá. Thế là nhà nghỉ đột nhiên vắng khách, thế là mọi thắc mắc: “tại sao”, “làm cách nào” đều không được giải đáp để phục vụ bạn nghe đài.

- Na là một cô thôn nữ xinh đẹp nhưng lười lao động. Học hết lớp 6, cô bỏ học đi buôn quần áo với người bạn. Được một số vốn kha khá, sau hai năm lăn lộn với đời Na quyết tâm sẽ lấy chồng nước ngoài để đổi đời. Cô đã liên lạc được với một đường dây bí mật đưa người sang Thái Lan. Trước hôm bỏ cha mẹ ra đi, cô vô tình xem thời sự, mục An ninh, thấy 8 cô gái mới được Công an giải cứu từ tay bọn buôn người, Na hơi giật mình. Hỏi thăm Công an xã cô biết xã bên cũng có 2 cô gái bị bọn buôn người đưa sang Campuchia mới được giải cứu. Na sang xã bên gặp cô gái mới thoát nạn và được nghe kể lại chuyện bị hại. Cô gái nạn nhân gầy còm, thân tàn ma dại, nghe kể đến đâu, Na rùng mình đến đó. Thì ra cái kịch bản dỗ ngon dỗ ngọt lại được ứng trước 5 triệu đồng đem về giúp cha mẹ của bọn buôn người không chỉ xảy ra riêng với Na. Thấy người lại nghĩ đến ta, nhiều người đã bị bán đi làm gái mại dâm, rồi đến lượt ta sa bẫy thì sao? Sau một đêm suy nghĩ, Na đã mạnh dạn đi báo Công an. Công an yêu cầu cô phối hợp hành động. Vở kịch vẫn cứ diễn ra bình thường. Khi bọn buôn người đưa các cô gái nhẹ dạ lên ô tô, lúc xe sắp chuyển bánh thì Công an ập tới. Một đường dây buôn người đã bị phá cũng nhờ cái lý thuyết “Nay ai, mai tôi”, lý thuyết này đã giúp cho Na sớm tỉnh ngộ, vừa giúp mình không sa vào cạm bẫy, vừa giúp Công an cứu được nhiều cô gái nông thôn không chịu chăm chỉ lao động, muốn được sung sướng nhanh chóng nên mới sa vào cái bẫy của bọn buôn người.

Dựa vào những bằng chứng đã được nêu ở trên, chắc rằng lý thuyết “Nay ai, mai tôi” sẽ sống mãi trong mọi không gian, mọi thời gian.

Trần Hữu Thăng