Ngành nông nghiệp phối hợp đồng bộ để đạt mục tiêu tăng trưởng
Với kết quả tăng trưởng được duy trì trong những tháng đầu năm, cùng sự vào cuộc của các bộ, ngành, địa phương và cộng đồng doanh nghiệp, ngành nông nghiệp có cơ sở để tiếp tục hướng tới các mục tiêu đề ra. Tuy nhiên, kết quả cuối cùng sẽ phụ thuộc vào khả năng biến những lợi thế về sản xuất thành giá trị gia tăng, xây dựng chuỗi liên kết bền vững và mở rộng thị trường xuất khẩu trong những tháng còn lại của năm.
Nhiều ngành hàng duy trì đà tăng trưởng
Theo ông Ngô Hồng Phong - Cục trưởng Cục Chất lượng, Chế biến và Phát triển thị trường (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), từ đầu năm đến nay, sản xuất nông, lâm, thủy sản tiếp tục duy trì tăng trưởng ổn định. Trong lĩnh vực trồng trọt, sản xuất lúa vụ Đông Xuân ghi nhận năng suất tăng, sản lượng đạt hơn 20 triệu tấn. Lĩnh vực lâm nghiệp tiếp tục duy trì kết quả tích cực khi diện tích trồng rừng, chăm sóc và bảo vệ rừng được quan tâm, trong đó sản lượng gỗ khai thác tăng 4,5% so với cùng kỳ.

Đối với thủy sản, tổng sản lượng đạt gần 5 triệu tấn, tăng 3,6%, trong đó nuôi trồng tiếp tục được xác định là động lực tăng trưởng quan trọng. Những kết quả này cho thấy các lĩnh vực sản xuất chủ lực của ngành nông nghiệp vẫn đang giữ được nền tảng tăng trưởng tương đối ổn định, tạo nguồn lực cho hoạt động chế biến và xuất khẩu.
Cán cân thương mại của ngành tiếp tục xuất siêu khoảng 9,2 tỷ USD. Tính chung 7 tháng đầu năm, kim ngạch xuất khẩu đạt gần 43 tỷ USD, tương đương gần 58% kế hoạch cả năm. Nhiều mặt hàng chủ lực tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng đáng ghi nhận. Xuất khẩu rau quả đạt trên 3,6 tỷ USD, tăng 18% so với cùng kỳ; riêng sầu riêng đạt gần 951 triệu USD, tăng hơn 31%. Xuất khẩu thủy sản đạt 5,7 tỷ USD, tăng hơn 11%; hạt tiêu đạt gần 946 triệu USD và tăng mạnh cả về lượng và giá trị. Đặc biệt, sản phẩm chăn nuôi đạt gần 375 triệu USD, tăng gần 35%.
Tuy nhiên, bức tranh xuất khẩu vẫn có sự phân hóa giữa các ngành hàng. Cà phê có khối lượng xuất khẩu tăng gần 10% nhưng giá trị chỉ đạt gần 5 tỷ USD, giảm hơn 14% do giá xuất khẩu bình quân giảm 22%. Với mặt hàng gạo, khối lượng tăng 9,7% nhưng giá trị giảm 2,5% theo số liệu trong báo cáo. Nguyên nhân được cho là nguồn cung toàn cầu dư thừa và cạnh tranh giá gay gắt từ các nước xuất khẩu lớn như Ấn Độ, Thái Lan.
Theo ông Ngô Hồng Phong, kết quả trên cho thấy ngành nông nghiệp cơ bản đã hoàn thành và vượt mục tiêu tăng trưởng đề ra. Tuy nhiên, để đạt mục tiêu xuất khẩu trên 74 tỷ USD, ngành cần tiếp tục cơ cấu lại sản xuất theo hướng nâng cao chất lượng và giá trị gia tăng, đồng thời tháo gỡ khó khăn về thị trường và khai thác hiệu quả hệ thống truy xuất nguồn gốc nông, lâm, thủy sản quốc gia.
Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Hoàng Hiệp cũng cho rằng, hoạt động sản xuất, kinh doanh và xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đang chịu tác động từ nhiều yếu tố, trong đó có biến động giá năng lượng, chi phí logistics, cạnh tranh thương mại và các rào cản kỹ thuật ngày càng gia tăng. Trong bối cảnh đó, việc duy trì được đà tăng trưởng là kết quả từ sự phối hợp giữa các bộ, ngành, địa phương, cùng nỗ lực của cộng đồng doanh nghiệp và các hiệp hội ngành hàng.

Để chặng đường còn lại của năm đạt kết quả cao hơn, yêu cầu đặt ra không chỉ là duy trì sản lượng mà phải chuyển mạnh sang nâng cao chất lượng, hiệu quả và giá trị của từng ngành hàng. Đây cũng là vấn đề được các hiệp hội, doanh nghiệp tập trung kiến nghị nhằm tháo gỡ những điểm nghẽn đang tác động trực tiếp đến năng lực sản xuất và xuất khẩu.
Gỡ điểm nghẽn, nâng sức cạnh tranh cho nông sản
Từ thực tiễn hoạt động sản xuất và xuất khẩu, các hiệp hội ngành hàng cho rằng, để thúc đẩy tăng trưởng, cần tiếp tục đổi mới mô hình sản xuất, tăng cường liên kết chuỗi và cải thiện môi trường kinh doanh.
Chủ tịch Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP) đề xuất Bộ Nông nghiệp và Môi trường tập trung xử lý những yếu tố có tính quyết định đến giá thành và sản lượng, gồm chất lượng con giống, kiểm soát dịch bệnh, giảm chi phí thức ăn và vật tư đầu vào. Cùng với đó là thúc đẩy phát triển các vùng nuôi tập trung, tăng cường liên kết chuỗi, số hóa quản lý vùng nuôi và truy xuất nguồn gốc.
Đối với lĩnh vực khai thác thủy sản, lãnh đạo VASEP đề nghị sớm có hướng dẫn thống nhất cho các địa phương về thủ tục cấp mới, cấp lại giấy chứng nhận an toàn thực phẩm cho các cảng cá. Đồng thời, cần tăng đầu tư công kết hợp xã hội hóa để phát triển thêm các cảng cá đủ điều kiện, được chỉ định, qua đó tạo thuận lợi cho ngư dân phát triển nguồn nguyên liệu hợp pháp phục vụ xuất khẩu và góp phần chống khai thác hải sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU).

Ở lĩnh vực rau quả, Chủ tịch Hiệp hội Rau quả Việt Nam (VINAFRUIT) Nguyễn Thanh Bình cho rằng, thủ tục cấp mã số vùng trồng hiện vẫn còn phức tạp, người dân chưa được phổ biến đầy đủ về trình tự thực hiện, trong khi thời gian xử lý kéo dài, nhất là vào thời điểm mùa vụ sầu riêng. Điều này có thể gây ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu, tác động đến người sản xuất và doanh nghiệp, đồng thời làm giảm niềm tin vào cơ quan chuyên môn.
Một vấn đề khác được ông Bình chỉ ra là mối liên kết giữa chủ thể có mã số vùng trồng với doanh nghiệp trong chuỗi giá trị chưa bền vững. Tình trạng tranh chấp, mua bán hoặc giả mạo mã số vùng trồng vẫn xảy ra khi thị trường biến động, tiềm ẩn nguy cơ ảnh hưởng đến uy tín và thị trường xuất khẩu của nông sản Việt Nam.
Do đó, Chủ tịch VINAFRUIT kiến nghị thay đổi quy trình cấp mã số vùng trồng theo hướng đơn giản hóa thủ tục, hồ sơ; ứng dụng công nghệ cao để số hóa và quản lý dữ liệu trên nền tảng kỹ thuật số tập trung, đồng thời chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm. Cùng với đó, cần phổ biến rộng rãi, công khai và cập nhật các quy định mới về truy xuất nguồn gốc, an toàn vệ sinh thực phẩm; tăng cường kiểm tra việc cấp phép, nhập khẩu, lưu hành, mua bán và sử dụng vật tư nông nghiệp.
Trong ngành gỗ, Tổng Thư ký Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam (Viforest) Ngô Sỹ Hoài cho biết, hiệp hội cam kết phối hợp với các hiệp hội địa phương và doanh nghiệp phấn đấu đưa kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ cả năm đạt 18,5 tỷ USD, trong điều kiện thuận lợi có thể đạt và vượt 19 tỷ USD.
Để hiện thực hóa mục tiêu này, ngành gỗ tập trung giữ vững các thị trường chủ lực, đặc biệt là Hoa Kỳ, đồng thời nâng cao giá trị gia tăng thay vì chỉ chạy theo tăng sản lượng. Ông Hoài đề nghị Bộ Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với Bộ Công Thương và Bộ Ngoại giao sớm thiết lập cơ chế trao đổi thường xuyên với các cơ quan, hiệp hội của Hoa Kỳ; chủ động cung cấp thông tin về lao động, môi trường và nguồn nguyên liệu rừng trồng của Việt Nam, đồng thời bảo vệ quyền lợi chính đáng của doanh nghiệp trước các biện pháp thuế và phòng vệ thương mại bất hợp lý.
Những kiến nghị từ các hiệp hội cho thấy yêu cầu đối với tăng trưởng nông nghiệp hiện nay không chỉ nằm ở việc mở rộng sản xuất, mà ngày càng phụ thuộc vào khả năng tổ chức lại chuỗi giá trị, kiểm soát chất lượng, đáp ứng tiêu chuẩn thị trường và nâng cao giá trị sản phẩm.
Theo Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trịnh Việt Hùng, doanh nghiệp phải giữ vai trò trung tâm trong quá trình này. “Trái tim của doanh nghiệp nằm trong lồng ngực của doanh nghiệp, không nằm trong tay các cơ quan quản lý Nhà nước”. Nhà nước sẽ đồng hành trong tháo gỡ thể chế, mở cửa thị trường và cung cấp thông tin, nhưng không thể làm thay doanh nghiệp trong quản trị chất lượng, tổ chức chuỗi hay thực hiện các cam kết hợp đồng.
Thông điệp này cho thấy để đạt mục tiêu tăng trưởng tối thiểu 4% và đưa xuất khẩu vượt 74 tỷ USD, cần một cách tiếp cận đồng bộ hơn, trong đó Nhà nước tập trung hoàn thiện thể chế, tháo gỡ điểm nghẽn, hỗ trợ mở rộng thị trường và cung cấp thông tin; còn doanh nghiệp, hiệp hội và người sản xuất phải chủ động nâng cao năng lực quản trị, chất lượng sản phẩm và khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế.