Ngủ đi mắt ơi
Có một bài thơ sau này đã được phổ nhạc mang đầy tính nhân văn, sự thông cảm và thương xót cuộc sống nhân sinh, bài thơ có những câu như sau: “Ngủ đi mắt ơi / Đêm đã sắp tàn rồi / Ngủ đi mắt ơi ”... Câu thơ thương xót cho những đôi mắt đêm nay thao thức quá, dày vò quá, đến nỗi không chợp được lúc nào, không nhắm lại được phút nào. Cứ trằn trọc mãi, cứ đếm cừu, đếm sao mãi vẫn không ngủ được. Sắp qua đêm rồi đấy, đêm đã sắp tàn rồi đấy, lại một ngày mới gian khổ khó nhọc. Thương quá mắt ơi!

Thượng đế, khi ban cho con người đôi mắt, Người hết sức lo lắng vì trách nhiệm của đôi mắt lớn quá, lại không được phép nghỉ lúc nào, nên Ngài ban thêm cho giấc ngủ. Phải ngủ mới lấy lại được sự sống, phải ngủ đôi mắt gian truân vất vả kia mới được nghỉ ngơi để ngày mai lại làm việc tiếp. Với lợi ích của giấc ngủ như vậy nên có người đã nói: “Giấc ngủ chính là món quà tặng miễn phí của Thượng đế ban cho con người”. Người nghèo đến đâu cũng có thể ngủ một giấc ngon lành sau một ngày lao động vất vả. Ấy thế mà những ai không ngủ được, không chợp được mắt lúc nào thì thật tội nghiệp quá!
Bài viết ngắn này xin nói một đôi điều về “Đôi mắt” trong văn chương chữ nghĩa và trong đời sống nhân sinh.
“Đôi mắt” trong văn chương:
Chúng ta vô cùng biết ơn nhà triết học Joseph Addison (1672–1719) đã khẳng định một cách tuyệt đối từ cách đây gần 3 thế kỷ: “Thị giác là giác quan hoàn hảo nhất và thi vị nhất trong tất cả các giác quan của chúng ta” (Our sight is most perfect and most delightful of all our senses). Sự khẳng định này của Addison đã soi sáng cho mọi cắt nghĩa, mọi chuẩn mực, mọi triết lý, mọi cách nhìn về đôi mắt, cơ quan thị giác của con người.
Ca dao Việt Nam có câu “Giàu hai con mắt, có hai bàn tay” là muốn khẳng định tầm quan trọng của đôi mắt và đôi bàn tay trong suốt một đời người. Giàu nghèo, sướng khổ cũng nhờ có đôi mắt, cũng nhờ có đôi bàn tay. Phải biết trân trọng và luyện tập thường xuyên để giữ gìn và bảo quản các báu vật này.
Cũng để ca ngợi hết lời đôi mắt của con người, tác giả J.Joubert (1754–1824) đã viết: “Trong đôi mắt của con người chứa đựng đầy đủ mọi Trí tuệ, Linh hồn và Thể xác” (Il y a dans les yeux de l'esprit, de l'âme et du corps). Thế mà có người, do tối tăm, đã không biết đến điều này, nên đã hủy hoại sự cao quý của đôi mắt bằng việc đọc một cách say sưa các trang mạng nhảm nhí, các bài viết, phim ảnh đồi trụy để tự làm hư hỏng mình, làm phí hoài một công cụ quan trọng giúp kiếm sống và kiếm tìm hạnh phúc trong cuộc sống hàng ngày.
Cần phân tích sâu thêm về tác dụng vạn năng của đôi mắt. Nhà triết học cổ đại Héraclite d'Éphèse (thế kỷ thứ 5 trước Công nguyên) đã khẳng định: “Đôi mắt là những bằng chứng trung thành hơn những bằng chứng chỉ do đôi tai mang lại” (Les yeux sont des témoins plus fidêles que les oreilles). Ở đây có thể diễn tả dễ hiểu là: Những điều tai nghe không xác thực bằng mắt thấy. Hoặc tai nghe (đồn thổi, vu vạ, nói xấu ...) không bằng mắt thấy (người thật, việc thật, địa điểm thật, không gian thật). Cũng theo ý này, tục ngữ cổ của Đức diễn tả là “Đôi mắt là của chính người đó trông thấy chứ còn đôi tai chỉ là do nghe ngóng từ người khác nên không được tin cậy bằng” (Les yeux se fient ā eux même, les oreilles se fient ā autrui). Còn tục ngữ cổ của Anh cũng diễn đạt rất hay là “Tin đồn chỉ là do gió mang đến, còn cái việc sờ sờ nhìn tận mắt thì đáng tin chứ” (Les mots ne sont que du vent, mais voir, c'est croire).
Ta cũng nên đề cập đến khía cạnh lãng mạn, nên thơ, đáng yêu, tình tứ của đôi mắt, còn có tên gọi khác là “cửa sổ của tâm hồn”.
Ca dao cổ vẫn ca ngợi các cô gái đẹp có đôi mắt lim dim, lúng la lúng liếng, mắt lá răm, mắt bồ câu, mắt nai vàng ngơ ngác, mắt trẻ thơ, mắt ngây thơ trong trắng... Tài tình nhất là cách đây 300 năm Nguyễn Du đã phát hiện ra sóng tình trong đôi mắt qua câu thơ: “Sóng tình dường đã siêu siêu/ xem trong âu yếm có chiều lả lơi... ”. Còn bên trời Tây, nhà văn Thackeray đã ca ngợi đôi mắt lãng mạn, yêu đương, hớp hồn người: “Một đôi mắt sáng cộng với một tá những liếc ngang liếc dọc cũng đủ để chinh phục lòng người” (A pair of bright eyes with a dozen glances suffice to subdue a man). Thật tài tình - chỉ có đôi mắt bé nhỏ thôi mà là cửa sổ tâm hồn, là thông minh, là sáng tạo, là tình cảm, là đắm đuối, là thiết tha...
Tác giả Edmond Rostand (1822–1896) đã thi vị hóa đôi mắt đàn bà là tha thiết, đẫm lệ, ứa lệ, trào lệ trong những giây phút xúc động đến tột độ, trong những yêu thương vô hạn qua đoạn văn “Những con mắt đẹp nhất đối với tôi là những con mắt đẫm lệ” (Les plus beaux yeux pour moi sont des yeux pleines de larmes).
Còn gì thú vị hơn khi nhắc lại câu thơ ca ngợi đôi mắt người yêu mà thi sĩ Pierre Corneille (1606–1684) đã viết: “Tôi sẽ giữ vẹn toàn niềm kiêu hãnh / của mắt ai làm êm dịu hồn tôi” (Je pourrai sauver la gloire / Des yeux qui me semblent doux).
“Đôi mắt” trong đời sống nhân sinh:
Đôi mắt cần được bảo vệ, giữ gìn cẩn thận.
Có ai đó đã nói răng phải giữ gìn sự đoàn kết trong bè bạn, trong cộng đồng như giữ gìn “con ngươi” của mình. Con ngươi, còn gọi là đồng tử, là vòng tròn nhỏ ở giữa mắt, có thể giãn to ra hoặc co nhỏ lại phụ thuộc vào nguồn ánh sáng từ ngoài chiếu vào ít hay nhiều. Đồng tử có thể được ví như cái ống kính của máy ảnh. Giữ gìn con ngươi tức là giữ gìn đôi mắt. Cần phải hết sức thận trọng trong việc bảo vệ và cách sử dụng đôi mắt (cả về nghĩa đen và nghĩa bóng).
Cách đây hơn 100 năm, ở những gia đình nề nếp tại Hà Nội, ai cũng muốn nhờ người vào Sài Gòn mua bằng được ba tấm bưu ảnh của Nhật Bản. Đó là bưu ảnh ba cô gái xinh tươi, mặc áo kimônô hoa đỏ. Một cô lấy hai tay bịt hai mắt. Một cô lấy hai tay bịt hai tai, một cô lấy hai tay bịt miệng. Họ cắt nghĩa rằng, con gái mới lớn và được giáo dục tốt, thì dù có những việc, những điều cũng không nên nhìn – nghe và nói. Cao quý thay ý nghĩa của 3 tấm bưu ảnh Nhật Bản đã dạy ta cách nhìn, cách nghe và cách nói thế nào cho đúng.
Với đôi mắt, từ khi em bé mở mắt chào đời đến khi là ông cụ già nhắm mắt xuôi tay, ta phải hết sức trân trọng và giữ gìn cẩn thận. Đến nay, năm 2019, khi ra đường ta thấy nhiều học sinh tiểu học, trung học đã phải đeo kính to nhỏ các loại, từ kính cận thị đến kính loạn thị, ta biết ngay lỗ hổng to lớn trong giáo dục gia đình và giáo dục học đường. Trẻ em mải miết xem tivi, xem mạng trên máy tính, trên Ipad, trên điện thoại thông minh, chơi game ... suốt ngày đêm... đã làm cơ quan thị giác bị tàn phá một cách không thương tiếc mà không ai nhắc nhở, không ai chỉ bảo. Nhìn một bữa cơm gia đình, các thành viên đều cắm cúi vào chiếc điện thoại, lùa cơm cho nhanh chóng vào miệng, không ai nói chuyện với ai, ta thấy đau lòng cho các thế hệ tương lai, lạnh lùng, vội vã, vô cảm, thiếu tình thương ấm áp gia đình.
Lại có một bài hát nào đó đã mô tả cuộc sống hối hả, vội vã như sau: “Vội vã trở về, vội vã ra đi”... Cuộc sống vội vã như thế, luôn hốt hoảng, quên quên nhớ nhớ, ra đến giữa đường mới nhớ quên điện thoại, quên chìa khóa nhà, tâm không còn bình an nữa, rất dễ tự gây ra tai nạn khi tham gia giao thông. Tâm không bình an sẽ gây ra rối loạn chức năng các cơ quan, bộ phận trong cơ thể, trong đó có đôi mắt. Các hệ vi tuần hoàn ở mắt sẽ bị ảnh hưởng, các dịch tiết ở mắt sẽ bi ảnh hưởng, dần dần mắt bị mờ đi, thị lực giảm dần. Vì thế lối sống bình tĩnh, một mình cần mẫn (To be alone), suy nghĩ thấu đáo sẽ rất có lợi cho sức khỏe nói chung và thị giác nói riêng.
Rồi còn rất nhiều kẻ thù khác của đôi mắt như: khói thuốc lá, bụi bẩn trên đường phố, không khí ô nhiễm, thực phẩm, lương thực nhiễm chất độc thuốc trừ sâu... góp phần phá hủy đôi mắt trong sáng của chúng ta.
Các em học sinh tiểu học ngồi sai tư thế, đọc và viết trong điều kiện thiếu ánh sáng, không đủ khoảng cách giữa đôi mắt và quyển sách, quyển vở cũng là những nguyên nhân tai hại kéo dài ngày này qua tháng khác mà không được khắc phục thì thử hỏi sao các em không mắc phải các tật khúc xạ cho đôi mắt.
Đôi mắt quan trọng là thế, thi vị là thế, mong rằng tất cả chúng ta cùng nhau bảo vệ và giữ gìn cẩn thận báu vật mà Thượng đế đã ban tặng để đôi mắt luôn trong sáng.