Nguyện tấu khúc hòa bình bên hoa đồng thảo
Trong bài “Nhớ Ngô Kha”, nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường viết: “Con người hành động mãnh liệt đã đến với anh sau nhiều năm đầy day dứt và ám ảnh về lẽ sống, về tuổi trẻ và vận mệnh đất nước”.
Chân dung liệt sĩ Ngô Kha
Liệt sĩ Ngô Kha (1935 - 1973) là con út trong một gia đình đông anh em (4 trai, 3 gái) tại làng Thế Lại Thượng, phường Phú Hiệp, thành phố Huế. Thân phụ của ông là cụ Ngô Tuyên, từng giữ chức tri huyện Lệ Thủy (Quảng Bình), rồi chánh án Quảng Bình thời nhà Nguyễn. Sau khi tốt nghiệp thủ khoa khóa đầu tiên trường ĐHSP Huế (1958-1959) và tốt nghiệp cử nhân Luật (1962), Ngô Kha vừa đi dạy Văn và Công dân ở các trường Quốc học, Hàm Nghi, Nguyễn Du, Hưng Đạo vừa tham gia tích cực các phong trào yêu nước tại Huế.
Để dấn thân vào phong trào đấu tranh lúc đó, Ngô Kha đã tham gia sinh hoạt với các bạn đồng niên trong nhóm “Quán bạn” với Trần Quang Long; “Tuyệt Tình Cốc” với anh em Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan. Tất cả các trí thức nói trên đều là những người cùng chí hướng, cùng sát cánh bên nhau trong phong trào đấu tranh đô thị chống lại chế độ thối nát Mỹ - Ngụy. Càng về sau Ngô Kha càng tỏ rõ quan điểm của mình, ông cùng các trí thức văn nghệ sĩ Huế đã ủng hộ tuyên bố 7 điểm của Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam.
Trong khi miền Nam đang nhiễm độc bởi thứ văn nghệ “tâm lý chiến” được chế độ Mỹ - Diệm “rao hàng tận nơi” thì vào năm 1961, Ngô Kha cho xuất bản tập thơ đầu tay mang tên “Hoa Cô Độc”. Tập thơ xuất hiện như một “nỗi buồn lặng lẽ và trong sạch, thực chất là một thái độ hoài nghi và dừng lại trước lẽ sống bịa đặt của chế độ Mỹ - Diệm” (Hoàng Phủ Ngọc Tường, “Nhớ Ngô Kha”, 1990). Ngô Kha đã nói với cái bóng của mình rằng: “Lần hồi sinh trên con tàu cuối cùng/ Chung quanh anh phù sa cát đỏ/ Anh hỏi thầm về đời mình: Gỗ đá có buồn không? Chim chóc có buồn không?”
Đến năm 1969, Ngô Kha lại cho ra đời tập “Ngụ ngôn của người đãng trí” và “Trường ca hòa bình”. Hai bản trường ca này chứa đựng tất cả ngôn ngữ và hình tượng ám ảnh kinh hoàng về chiến tranh và khát vọng về sự hòa bình. Đặc biệt, Ngô Kha đã kêu gọi mọi người cùng đứng lên giành lại hòa bình cho dân tộc: “Mừng gặp anh em như mới chào đời ngày/ Việt Nam khai sinh ngôn ngữ mới/ ba mươi triệu đồng bào anh em đứng dậy/ như Trường Sơn hùng vĩ đời đời hòa bình/ về trong trái tim người…” (trích “Trường ca Hòa bình”). “Ba mươi triệu đồng bào” ở đây là cả dân tộc Việt Nam, là toàn thể nhân dân hai miền Nam Bắc Việt Nam đứng lên chống lại chế độ thối nát Mỹ - Ngụy.
Năm 1970, ông cùng với Trịnh Công Sơn, Trần Viết Ngạc, Lê Khắc Cầm, Chu Sơn và Thái Ngọc San chủ trương phong trào Tự quyết, ra tập san “Tự quyết”. Năm 1971, Ngô Kha tham gia thành lập Mặt trận văn hóa dân tộc miền Trung, đặt dưới sự lãnh đạo của Thành ủy Huế. Ngô Kha được bầu làm Chủ tịch mặt trận. Đồng thời ông cũng chủ biên tập san “Mặt trận Văn hóa Dân tộc miền Trung”.
Trong bài thơ “Cho những người nằm xuống” (1971), Ngô Kha đã viết: “Nguyện làm loài chim mang quá khứ đau thương/ trở về tấu khúc hòa bình bên hoa đồng thảo/ ở đó/ Việt Nam vĩnh cửu/ Việt Nam không còn chiến tranh”.
Nhà thơ, nhà báo Thái Ngọc San, một thành viên của nhóm trí thức đấu tranh Tự quyết của Ngô Kha nhớ lại: “Đầu những năm 70, thầy giáo, nhà thơ Ngô Kha xuất hiện như một ngọn cờ, hô hào bãi khóa, xuống đường và khởi thảo các bản tuyên ngôn, tuyên chiến với chế độ Sài Gòn. Những bài thơ mới của Ngô Kha trong giai đoạn này là những khúc tráng ca mang đầy dấu ấn của thời cuộc: “Bài ca tự quyết”, “Cho những người nằm xuống”, “Trường ca Hòa bình”… Chính vì vậy mà nhà chức trách đương thời ở Huế đã rất điên cuồng tìm mọi cách để triệt hạ ngọn cờ Ngô Kha”.
Ngô Kha từng bị chế độ Việt Nam Cộng hòa bắt hai lần vào các năm 1966, 1971 và lần cuối cùng bị thủ tiêu bí mật sau Hiệp định Paris. Đó là khoảng một ngày đầu năm 1973, hai tên mật vụ Lê Đình Liên và Nguyễn Đình Cáp được lệnh Liên Thành - Trưởng ty Cảnh sát quốc gia Thừa Thiên (học trò cũ của Ngô Kha) theo dõi và đã đến bắt Ngô Kha tại nhà 42 Bạch Đằng - nhà của bà quả phụ Ngô Du, chị dâu của Ngô Kha. Sau ngày hôm đó, gia đình, bạn bè của Ngô Kha không biết được thêm tin tức gì về ông.
Ngày 1/1/1981, Chủ tịch UBND thành phố Huế đã ký giấy chứng nhận hy sinh số 153 và đề nghị Nhà nước truy tặng liệt sĩ cho nhà thơ-nhà giáo Ngô Kha. Ngày 3/11/1981, nhà thơ-nhà giáo Ngô Kha được công nhận là liệt sĩ. Ngày 26/6/1989, nhà thơ-nhà giáo Ngô Kha đã được nhận Huân chương Kháng chiến hạng Ba do Hội đồng Nhà nước tặng.
Tuy nhiên, cho đến nay, hài cốt của liệt sĩ Ngô Kha vẫn chưa được tìm thấy vì vẫn chưa biết đích xác địa điểm địch lén lút chôn cất ông (dù đã biết là một nơi nào đó trên cánh đồng An Cựu).
Ngày nay, một con đường ở gần nơi ngày xưa ông sống và trường tiểu học tại địa bàn phường Phú Hiệp, thành phố Huế đã được mang tên Ngô Kha.